Mỗi con đường, mỗi lối sống, mỗi ngành nghề có những hoa trái khác nhau. Vậy tại sao lại chọn đời sống tu hành? Thành quả của đời sống tu hành là gì? Có thể nói Kinh Thành quả của đời sống tu hành (hay Kinh Sa-môn quả) (DN 2) là một trong những kiệt tác của Kinh điển Pali, khắc họa bức tranh toàn diện về con đường tu hành theo Đạo Phật Nguyên Thủy. Mời quý vị cùng theo dõi và chiêm nghiệm bài kinh này được dịch sang tiếng Việt phổ thông dễ hiểu.
| Bản gốc | Bản dịch |
| Sāmaññaphala Sutta (DN2): The Fruits of the Contemplative Life | Kinh Thành quả của đời sống tu hành |
| I have heard that on one occasion the Blessed One was staying at Rājagaha, in Jīvaka Komārabhacca’s mango grove, with a large Saṅgha of monks—1,250 monks in all. Now at that time—it being the uposatha day, the full-moon night of the water-lily season, the fourth month of the rains—King Ajātasattu of Magadha, the son of Queen Vedehi, was sitting on the roof terrace of his palace surrounded by his ministers. Then he felt inspired to exclaim: “How wonderful is this moonlit night! How beautiful… How lovely… How inspiring… How auspicious is this moonlit night! What contemplative or brahman should we visit tonight who, on being visited, would make our mind clear & serene?” When this was said, one of the ministers said to the king: “Your majesty, there is Pūraṇa Kassapa, the leader of a community, the leader of a group, the teacher of a group, honored and famous, esteemed as holy by the mass of people. He is aged, long gone forth, advanced in years, in the last phase of life. Your majesty should visit him. Perhaps, if visited by you, he would make your mind clear & serene.” When this was said, the king remained silent. Then another minister said to the king: “Your majesty, there is Makkhali Gosāla… ” … “Your majesty, there is Ajita Kesakambalin… ” … “Your majesty, there is Pakudha Kaccāyana… ” … “Your majesty, there is Sañjaya Velaṭṭhaputta… ” … “Your majesty, there is Nigaṇṭha Nāṭaputta, the leader of a community, the leader of a group, the teacher of a group, honored and famous, esteemed as holy by the mass of people. He is aged, long gone forth, advanced in years, in the last phase of life. Your majesty should visit him. Perhaps, if visited by you, he would make your mind clear & serene.” When this was said, the king remained silent. All this time Jīvaka Komārabhacca was sitting silently not far from the king. So the king said to him, “Friend Jīvaka, why are you silent?” “Your majesty, there is the Blessed One, worthy and rightly self-awakened, staying in my mango grove with a large Saṅgha of monks—1,250 monks in all. Concerning this Blessed One, this admirable report has been spread: ‘Indeed, the Blessed One is worthy & rightly self-awakened, consummate in clear-knowing & conduct, well-gone, an expert with regard to the cosmos, unexcelled trainer of people fit to be tamed, teacher of devas & human beings, awakened, blessed.’ Your majesty should visit him. Perhaps, if visited by you, he would make your mind clear & serene.” “Then in that case, friend Jīvaka, have the riding elephants prepared.” Responding, “As you say, your majesty,” having had five hundred female elephants prepared as well as the king’s personal tusker, Jīvaka announced to the king: “Your majesty, your riding elephants are prepared. Do what you think it is now time to do.” | Chuyện kể rằng một hôm, Thế Tôn trú ở rừng xoài của Thần y Jīvaka Komārabhacca, trong thành Vương Xá, cùng một đại chúng Tăng gồm tổng cộng 1.250 vị. Hôm đó là ngày lễ Bố-tát, đêm trăng rằm mùa hoa súng, tháng thứ tư mùa mưa, Vua A-xà-thế của nước Ma-kiệt-đà, con trai Thái hậu Vi-đề-hi, đang ngồi giữa các đại thần trên sảnh thượng cung điện. Ngài cảm hứng thốt lên: “Tối nay trăng sáng tuyệt vời quá! Tối nay trăng sáng đẹp quá, …diễm lệ quá, …truyền cảm hứng quá, …cát tường quá! Tối nay, chúng ta nên viếng thăm vị tu hành hay bà-la-môn nào đây, mà khi viếng thăm, tâm chúng ta liền được thông tỏ và thanh thản?” Nghe Vua nói vậy, một đại thần tâu với Ngài: “Tâu Bệ hạ, có Đạo sư Pūraṇa Kassapa, vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, nổi danh, được tôn vinh và được dân chúng xưng tôn là bậc Thánh. Vị ấy đã cao tuổi, xuất gia lâu năm, dày dạn kinh nghiệm, ở giai đoạn gần đất xa trời. Bệ hạ nên viếng thăm vị ấy. Nếu Bệ hạ viếng thăm, có thể vị ấy sẽ giúp tâm Bệ hạ được thông tỏ và thanh thản.” Nghe vậy, Vua im lặng. Rồi một đại thần khác tâu với Ngài: “Tâu Bệ hạ, có Đạo sư Makkhali Gosāla…” (…) “Tâu bệ hạ, có Đạo sư Ajita Kesakambalin…” (…) “Tâu Bệ hạ, có Đạo sư Pakudha Kaccāyana…” (…) “Tâu Bệ hạ, có Đạo sư Sañjaya Velaṭhaputta…” (…) “Tâu Bệ hạ, có Đạo sư Nigaṇṭha Nāṭaputta, vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, nổi danh, được tôn vinh và được dân chúng xưng tôn là bậc Thánh. Vị ấy đã cao tuổi, xuất gia lâu năm, dày dạn kinh nghiệm, ở giai đoạn gần đất xa trời. Bệ hạ nên viếng thăm vị ấy. Nếu Bệ hạ viếng thăm, có thể vị ấy sẽ giúp tâm Bệ hạ được thông tỏ và thanh thản.” Nghe vậy, Vua vẫn im lặng. Trong suốt lúc đó, Thần y Jīvaka Komārabhacca ngồi im lặng cách Vua không xa. Thấy thế, Vua nói với ông: “Này đạo hữu Jīvaka, tại sao khanh im lặng?” “Tâu Bệ hạ, có Thế Tôn, Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đáng tôn kính, đang trú ở rừng xoài của thần cùng một đại chúng Tăng gồm tổng cộng 1.250 vị. Về vị Thế Tôn này, tiếng lành đồn xa như sau: ‘Thế Tôn thực sự là Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đáng tôn kính, có minh trí và giới hạnh tối thượng, đã giải thoát hoàn toàn, một chuyên gia về vũ trụ, nhà huấn luyện vô song đối với những người thích hợp để được điều phục, bậc thầy của chư thiên và con người, đã giác ngộ, có phước báu.’ Bệ hạ nên viếng thăm Ngài ấy. Nếu Bệ hạ viếng thăm, có thể Ngài ấy sẽ giúp tâm Bệ hạ được thông tỏ và thanh thản.” “Nếu vậy thì đạo hữu Jīvaka, hãy báo chuẩn bị kiệu voi.” “Tuân lệnh Bệ hạ”, Thần y Jīvaka thưa, sau đó báo chuẩn bị năm trăm voi cái và voi lớn riêng của Vua, rồi tâu với Ngài: “Tâu Bệ hạ, đoàn kiệu voi đã sẵn sàng, chờ lệnh Bệ hạ.” |
| Then the king, having had five hundred of his women mounted on the five hundred female elephants—one on each—and having mounted his own personal tusker, set out from the capital in full royal state, with attendants carrying torches, headed for Jīvaka Komārabhacca’s mango grove. But when the king was not far from the mango grove, he was gripped with fear, trepidation, his hair standing on end. Fearful, agitated, his hair standing on end, he said to Jīvaka Komārabhacca: “Friend Jīvaka, you aren’t deceiving me, are you? You aren’t betraying me, are you? You aren’t turning me over to my enemies, are you? How can there be such a large Saṅgha of monks—1,250 in all—with no sound of sneezing, no sound of coughing, no voices at all?” “Don’t be afraid, great king. Don’t be afraid. I’m not deceiving you or betraying you or turning you over to your enemies. Go forward, great king, go forward! Those are lamps burning in the pavilion hall.” Then the king, going as far on his tusker as the ground would permit, dismounted and approached the door of the pavilion hall on foot. On arrival, he asked Jīvaka: “Where, friend Jīvaka, is the Blessed One?” “That is the Blessed One, great king, sitting against the middle pillar, facing east, surrounded by the Saṅgha of monks.” Then the king approached the Blessed One and, on reaching him, stood to one side. As he was standing there—surveying the Saṅgha of monks sitting in absolute silence, utterly clear & serene like a lake—he felt inspired to exclaim: “May my son, Prince Udayabhadda, enjoy the same stillness that this Saṅgha of monks now enjoys!” (The Blessed One said:) “Have you come, great king, together with your affections?” “Lord, my son, Prince Udayabhadda, is very dear to me. May he enjoy the same stillness that this Saṅgha of monks now enjoys!” Then, bowing down to the Blessed One and saluting the Saṅgha of monks with his hands palm-to-palm over his heart, he sat to one side. As he was sitting there, he said to the Blessed One: “I would like to ask the Blessed One about a certain issue, if he would give me the opportunity to explain my question.” “Ask, great king, whatever you like.” | Rồi Vua cưỡi voi lớn riêng của Ngài, cùng năm trăm hoàng phi cưỡi năm trăm voi cái – mỗi người một con, khởi hành từ thủ đô với trang phục và nghi thức hoàng gia đầy đủ, cùng đoàn người hầu cận mang đuốc, hướng đến rừng xoài của Thần y Jīvaka Komārabhacca. Thế nhưng, khi cách rừng xoài không xa, Vua vô cùng sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng ngược. Sợ hãi, bồn chồn, tóc dựng ngược, Ngài bảo Thần y Jīvaka Komārabhacca: “Này đạo hữu Jīvaka, khanh lừa gạt Ta chăng? Khanh phản bội Ta chăng? Khanh giao nộp Ta cho kẻ thù chăng? Làm sao lại có một chúng Tăng lớn như thế – tổng cộng 1.250 vị, mà không hề có một tiếng hắt hơi, một tiếng ho, một tiếng nói nào vậy?” “Tâu Đại Vương, đừng sợ, đừng sợ. Không phải thần lừa gạt, phản bội hay giao nộp Đại Vương cho kẻ thù đâu. Đại Vương cứ đi tới, cứ đi tới đi! Đó là những ngọn đèn đang cháy trong sảnh đường.” Thế là Vua cưỡi voi đi cho đến chỗ voi có thể đi được, rồi xuống voi và đi bộ đến cửa sảnh đường. Đến nơi, Ngài hỏi Thần y Jīvaka: “Này đạo hữu Jīvaka, Thế Tôn đâu?” “Tâu Đại Vương, Ngài ấy là Thế Tôn, đang ngồi quay lưng vào cột chính giữa, quay mặt về hướng Đông, xung quanh là chúng Tăng.” Rồi Vua lại gần chỗ Thế Tôn. Đến nơi, Ngài đứng sang một bên. Khi đứng đó, nhìn khắp chúng Tăng đang ngồi trong sự tĩnh lặng tuyệt đối, hoàn toàn trong vắt và thanh bình như hồ nước, Vua liền cảm hứng thốt lên: “Cầu cho con trai Ta, Hoàng tử Udayabhadda, cũng được tận hưởng sự tĩnh lặng như chúng Tăng đây đang tận hưởng!”. (Thế Tôn nói:) “Đại Vương, Ngài đã đến cùng các tình yêu rồi à?” “Thưa Thế Tôn, con rất yêu con trai con, Hoàng tử Udayabhadda. Cầu cho Hoàng tử cũng được tận hưởng sự tĩnh lặng giống như chúng Tăng đây đang tận hưởng!”. Rồi Vua đảnh lễ Thế Tôn, chắp tay vái chào chúng Tăng và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi, Vua thưa với Thế Tôn: “Con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề nếu có cơ hội được Ngài giảng giải.” “Đại Vương cứ thoải mái hỏi.” |
| The King’s Question “Lord, there are these common craftsmen: elephant-trainers, horse-trainers, charioteers, archers, standard bearers, camp marshals, supply corps officers, high royal officers, commandos, military heroes, armor-clad warriors, leather-clad warriors, domestic slaves, confectioners, barbers, bath attendants, cooks, garland-makers, laundrymen, weavers, basket-makers, potters, calculators, accountants, and any other craftsmen of a similar sort. They live off the fruits of their crafts, visible in the here & now. They give happiness & pleasure to themselves, to their parents, wives, & children, to their friends & colleagues. They put in place an excellent presentation of offerings to contemplatives & brahmans, leading to heaven, resulting in happiness, conducive to a heavenly rebirth. Is it possible, lord, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here & now?” “Do you remember, great king, ever having asked this question of other contemplatives & brahmans?” “Yes, I do.” “If it isn’t troublesome for you, how did they answer?” “No, it’s not troublesome for me wherever the Blessed One—or someone like the Blessed One—is sitting.” “Then speak, great king.” | Câu hỏi của Vua “Thưa Thế Tôn, có những người lành nghề bình thường: người huấn luyện voi, người huấn luyện ngựa, người đánh xe ngựa, người bắn cung, người cầm cờ, chỉ huy trưởng trại lính, sĩ quan quân đoàn tiếp tế, sĩ quan hoàng gia cấp cao, đặc công, anh hùng lực lượng vũ trang, chiến binh áo giáp, chiến binh áo da, nô lệ trong nhà, thợ làm bánh kẹo, thợ cắt tóc, người phục vụ phòng tắm, đầu bếp, người làm vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, thợ đan rổ, thợ gốm, nhà toán số, kế toán, v.v. Họ sống dựa trên thành quả nghề nghiệp của mình, hữu hình ngay trong hiện tại. Họ mang lại hạnh phúc và niềm vui cho bản thân, cho cha mẹ, vợ con, bạn bè và đồng nghiệp của mình. Họ dâng cúng lễ vật thịnh soạn cho các vị tu hành và bà-la-môn, dẫn đến phước báu cõi Trời, mang lại hạnh phúc, giúp họ tái sinh cõi Trời. Thưa Thế Tôn, liệu có thể chỉ ra một thành quả tương tự của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại không?” “Đại Vương, Ngài có nhớ đã từng đặt câu hỏi này với các vị tu hành và bà-la-môn khác không?” “Thưa Thế Tôn, con nhớ.” “Nếu Ngài không phiền thì họ trả lời như thế nào?” “Thưa Thế Tôn, không, con không phiền bất cứ nơi nào có Thế Tôn – hay một bậc giống như Thế Tôn – an tọa.” “Vậy mời Đại Vương chia sẻ.” |
| Non-action “Once, lord, I approached Pūraṇa Kassapa and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings and courtesies, I sat to one side. As I was sitting there I asked him: ‘Venerable Kassapa, there are these common craftsmen.… They live off the fruits of their crafts, visible in the here & now.… Is it possible, venerable sir, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here & now?’ “When this was said, Pūraṇa Kassapa said to me, ‘Great king, in acting or getting others to act, in mutilating or getting others to mutilate, in torturing or getting others to torture, in inflicting sorrow or in getting others to inflict sorrow, in tormenting or getting others to torment, in intimidating or getting others to intimidate, in taking life, taking what is not given, breaking into houses, plundering wealth, committing burglary, ambushing highways, committing adultery, speaking falsehood—one does no evil. If with a razor-edged disk one were to turn all the living beings on this earth to a single heap of flesh, a single pile of flesh, there would be no evil from that cause, no coming of evil. Even if one were to go along the right bank of the Ganges, killing and getting others to kill, mutilating and getting others to mutilate, torturing and getting others to torture, there would be no evil from that cause, no coming of evil. Even if one were to go along the left bank of the Ganges, giving and getting others to give, making sacrifices and getting others to make sacrifices, there would be no merit from that cause, no coming of merit. Through generosity, self-control, restraint, and truthful speech there is no merit from that cause, no coming of merit.’ “Thus, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here & now, Pūraṇa Kassapa answered with non-action. Just as if a person, when asked about a mango, were to answer with a breadfruit; or, when asked about a breadfruit, were to answer with a mango: In the same way, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here & now, Pūraṇa Kassapa answered with non-action. The thought occurred to me: ‘How can anyone like me think of disparaging a contemplative or brahman living in his realm?’ Yet I neither delighted in Pūraṇa Kassapa’s words nor did I protest against them. Neither delighting nor protesting, I was dissatisfied. Without expressing dissatisfaction, without accepting his teaching, without adopting it, I got up from my seat and left. | Không có nghiệp “Thưa Thế Tôn, có lần con đến chỗ thầy Pūraṇa Kassapa. Đến nơi, sau khi chào hỏi thầy ấy, con ngồi xuống một bên và hỏi: ‘Thưa Tôn giả Kassapa, có những người lành nghề bình thường (…) Họ sống dựa trên thành quả nghề nghiệp của mình, hữu hình ngay trong hiện tại. (…) Thưa Tôn giả, liệu có thể chỉ ra một thành quả tương tự của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại không?’ “Nghe xong, thầy Pūraṇa Kassapa nói với con: ‘Thưa Đại Vương, người ta không tạo nghiệp ác khi hành động hoặc khiến người khác hành động, khi cắt xẻo hoặc khiến người khác cắt xẻo, khi tra tấn hoặc khiến người khác tra tấn, khi gây đau buồn hoặc khiến người khác gây đau buồn, khi giày vò hoặc khiến người khác giày vò, khi đe dọa hoặc khiến người khác đe dọa, khi sát sinh, lấy của không cho, đột nhập vào nhà, cướp bóc tài sản, trộm cắp, cướp đường, tà dâm, nói dối. Nếu với một chiếc đĩa sắc nhọn, người ta biến tất cả chúng sinh trên địa cầu này thành một đống thịt, một chồng thịt, thì không vì nguyên nhân đó mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Cho dù người ta có đi dọc bờ bên phải sông Hằng, giết hại và khiến người khác giết hại, cắt xẻo và khiến người khác cắt xẻo, tra tấn và khiến người khác tra tấn, thì cũng không vì nguyên nhân đó mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Cho dù người ta có đi dọc bờ bên trái sông Hằng, bố thí và khiến người khác bố thí, tế lễ và khiến người khác tế lễ, thì cũng không vì nguyên nhân đó mà có phước báo, mà tạo ra phước báo. Hào phóng, tự chủ, kiềm chế và nói thật, không vì nguyên nhân đó mà có phước báo, mà tạo ra phước báo.’ Như vậy, khi được hỏi về thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, thầy Pūraṇa Kassapa lại trả lời rằng không có nghiệp. Giống như hỏi về quả xoài lại trả lời về quả mít, hỏi về quả mít lại trả lời về quả xoài. Cũng vậy, khi được hỏi về thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, thầy Pūraṇa Kassapa lại trả lời rằng không có nghiệp. Con nghĩ: ‘Làm sao một người như con có thể nghĩ đến chuyện hạ thấp một nhà tu hành hay bà-la-môn sống trong cõi của họ được?’. Nhưng con không hoan hỷ, cũng không phản đối lời của thầy Pūraṇa Kassapa. Không hoan hỷ, cũng không phản đối, con không thỏa mãn. Không tỏ ra bất mãn, cũng không đón nhận, chấp nhận lời dạy của thầy ấy, con đứng dậy ra về.” |
| Purification through Wandering-on “Another time I approached Makkhali Gosāla and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings and courtesies, I sat to one side. As I was sitting there I asked him: ‘Venerable Gosāla, there are these common craftsmen.… They live off the fruits of their crafts, visible in the here & now.… Is it possible, venerable sir, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here & now?’ “When this was said, Makkhali Gosāla said to me, ‘Great king, there is no cause, no requisite condition, for the defilement of beings. Beings are defiled without cause, without requisite condition. There is no cause, no requisite condition, for the purification of beings. Beings are purified without cause, without requisite condition. There is nothing self-caused, nothing other-caused, nothing human-caused. There is no strength, no effort, no human energy, no human endeavor. All living beings, all life, all beings, all souls are powerless, devoid of strength, devoid of effort. Subject to the changes of fate, serendipity, and nature, they are sensitive to pleasure and pain in the six great classes of birth. “‘There are 1,406,600 principle modes of origin. There are 500 kinds of kamma, five kinds, and three kinds; full kamma and half kamma. There are 62 pathways, 62 sub-eons, six great classes of birth, eight classes of men, 4,900 modes of livelihood, 4,900 kinds of wanderers, 4,900 Nāga-abodes, 2,000 faculties, 3,000 hells, 36 dust-realms, seven spheres of percipient beings, seven spheres of non-percipient beings, seven kinds of jointed plants, seven kinds of deities, seven kinds of human beings, seven kinds of demons, seven great lakes, seven major knots, seven minor knots, 700 major precipices, 700 minor precipices, 700 major dreams, 700 minor dreams, 84,000 great aeons. Having transmigrated and wandered on through these, the wise & the foolish alike will put an end to pain. “‘Though one might think, “Through this morality, this practice, this austerity, or this holy life I will ripen unripened kamma and eliminate ripened kamma whenever touched by it”—that is impossible. Pleasure and pain are measured out, the wandering-on is fixed in its limits. There is no shortening or lengthening, no accelerating or decelerating. Just as a ball of string, when thrown, comes to its end simply by unwinding, in the same way, having transmigrated and wandered on, the wise & the foolish alike will put an end to pain.’ “Thus, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here & now, Makkhali Gosāla answered with purification through wandering-on. Just as if a person, when asked about a mango, were to answer with a breadfruit; or, when asked about a breadfruit, were to answer with a mango. In the same way, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here & now, Makkhali Gosāla answered with purification through wandering-on. The thought occurred to me: ‘How can anyone like me think of disparaging a contemplative or brahman living in his realm?’ Yet I neither delighted in Makkhali Gosāla’s words nor did I protest against them. Neither delighting nor protesting, I was dissatisfied. Without expressing dissatisfaction, without accepting his teaching, without adopting it, I got up from my seat and left. | Thanh lọc thông qua luân hồi “Lần khác, con đến chỗ thầy Makkhali Gosāla. Đến nơi, sau khi chào hỏi thầy ấy, con ngồi xuống một bên và hỏi: ‘Thưa Tôn giả Gosāla, có những người lành nghề bình thường (…) Họ sống dựa trên thành quả nghề nghiệp của mình, hữu hình ngay trong hiện tại. (…) Thưa Tôn giả, liệu có thể chỉ ra một thành quả tương tự của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại không?’ Nghe xong, thầy Makkhali Gosāla nói với con: ‘Thưa Đại Vương, không có nhân, không có duyên dẫn đến sự ô nhiễm của chúng sinh. Chúng sinh bị ô nhiễm mà không do nhân, không do duyên. Không có nhân, không có duyên dẫn đến sự thanh lọc của chúng sinh. Chúng sinh được thanh lọc mà không do nhân, không do duyên. Không có gì do mình tự gây ra, không có gì do người khác gây ra, không có gì do con người gây ra. Không có sức lực, không có nỗ lực, không có nghị lực của con người, không có sự cố gắng của con người. Mọi chúng sinh, mọi sự sống, mọi loài và mọi linh hồn đều bất lực, vô sức lực, vô nỗ lực. Chịu sự thay đổi của số phận, khả năng cầu may và tự nhiên, họ cảm nhận niềm vui, nỗi khổ trong sáu loại thác sanh. Có 1.406.600 phương thức khởi nguyên chính. Có 500 loại nghiệp, năm loại nghiệp và ba loại nghiệp; có nghiệp toàn phần và nghiệp bán phần. Có 62 đạo, 62 tiểu kỷ nguyên, sáu loại thác sanh, tám loại người, 4.900 sinh kế, 4.900 loại du sĩ, 4.900 cõi Nāga, 2.000 năng lực, 3.000 địa ngục, 36 cõi bụi, bảy cõi chúng sinh có nhận thức, bảy cõi chúng sinh không có nhận thức, bảy loài thực vật có đốt, bảy loài chư thiên, bảy loài người, bảy loài quỷ, bảy hồ lớn, bảy nút lớn, bảy nút nhỏ, 700 vực thẳm lớn, 700 vực thẳm nhỏ, 700 giấc mộng lớn, 700 giấc mộng nhỏ, 84.000 đại kỷ nguyên. Sau khi luân hồi chuyển kiếp qua những cái này, người trí cũng như kẻ ngu đều đoạn trừ khổ đau. Người ta có thể cho rằng: ‘Thông qua giới hạnh này, sự hành trì này, sự khổ hạnh này hoặc đời sống thánh khiết này, ta sẽ làm chín muồi nghiệp chưa chín muồi và tiêu trừ nghiệp đã chín muồi mỗi khi nó xảy đến” – nhưng điều đó là không thể. Vui, khổ được đong ra. Sự luân hồi có giới hạn cố định của nó, không có rút ngắn hay kéo dài, không có tăng tốc hay giảm tốc. Giống như một quả bóng làm bằng sợi dây, khi người ta ném đi, đơn giản là nó sẽ không còn khi sợi dây bung ra. Cũng vậy, sau khi luân hồi chuyển kiếp, người trí cũng như kẻ ngu đều đoạn trừ khổ đau.’ Như vậy, khi được hỏi về thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, thầy Makkhali Gosāla lại trả lời rằng người ta được thanh lọc thông qua luân hồi chuyển kiếp. Giống như hỏi về quả xoài lại trả lời về quả mít, hỏi về quả mít lại trả lời về quả xoài. Cũng vậy, khi được hỏi về thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, thầy Makkhali Gosāla lại trả lời rằng người ta được thanh lọc thông qua luân hồi chuyển kiếp. Con nghĩ: ‘Làm sao một người như con có thể nghĩ đến chuyện hạ thấp một nhà tu hành hay bà-la-môn sống trong cõi của họ được?’. Nhưng con không hoan hỷ, cũng không phản đối lời của thầy Makkhali Gosāla. Không hoan hỷ, cũng không phản đối, con không thỏa mãn. Không tỏ ra bất mãn, cũng không đón nhận, chấp nhận lời dạy của thầy ấy, con đứng dậy ra về.” |
| Annihilation “Another time I approached Ajita Kesakambalin and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings and courtesies, I sat to one side. As I was sitting there I asked him: ‘Venerable Ajita, there are these common craftsmen.… They live off the fruits of their crafts, visible in the here & now.… Is it possible, venerable sir, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here & now?’ “When this was said, Ajita Kesakambalin said to me, ‘Great king, there is nothing given, nothing offered, nothing sacrificed. There is no fruit or result of good or bad actions. There is no this world, no next world, no mother, no father, no spontaneously reborn beings; no contemplatives or brahmans who, faring rightly and practicing rightly, proclaim this world and the next after having directly known and realized it for themselves. A person is a composite of four primary elements. At death, the earth (in the body) returns to and merges with the (external) earth-substance. The fire returns to and merges with the external fire-substance. The liquid returns to and merges with the external liquid-substance. The wind returns to and merges with the external wind-substance. The sense-faculties scatter into space. Four men, with the bier as the fifth, carry the corpse. Its eulogies are sounded only as far as the charnel ground. The bones turn pigeon-colored. The offerings end in ashes. Generosity is taught by idiots. The words of those who speak of existence after death are false, empty chatter. With the break-up of the body, the wise and the foolish alike are annihilated, destroyed. They do not exist after death.’ “Thus, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here & now, Ajita Kesakambalin answered with annihilation. Just as if a person, when asked about a mango, were to answer with a breadfruit; or, when asked about a breadfruit, were to answer with a mango. In the same way, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here & now, Ajita Kesakambalin answered with annihilation. The thought occurred to me: ‘How can anyone like me think of disparaging a contemplative or brahman living in his realm?’ Yet I neither delighted in Ajita Kesakambalin’s words nor did I protest against them. Neither delighting nor protesting, I was dissatisfied. Without expressing dissatisfaction, without accepting his teaching, without adopting it, I got up from my seat and left. | Chết là hết “Lần khác, con đến chỗ thầy Ajita Kesakambalin. Đến nơi, sau khi chào hỏi thầy ấy, con ngồi xuống một bên và hỏi: ‘Thưa Tôn giả Ajita, có những người lành nghề bình thường (…) Họ sống dựa trên thành quả nghề nghiệp của mình, hữu hình ngay trong hiện tại. (…) Thưa Tôn giả, liệu có thể chỉ ra một thành quả tương tự của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại không?’ Nghe xong, thầy Ajita Kesakambalin nói với con: ‘Thưa Đại Vương, không có đồ bố thí, không có đồ cúng dường, không có đồ tế lễ. Không có quả báo hay kết quả của hành động (nghiệp) thiện hoặc ác. Không có cõi này, không có cõi sau, không có mẹ, không có cha, không có chúng sinh tự nhiên tái sinh; không có các nhà tu hành hay bà-la-môn tuyên bố về cõi này và cõi sau, sau khi đã tự mình trực tiếp biết và chứng ngộ do tu luyện đúng cách và hành trì đúng cách. Con người là sự kết hợp của bốn nguyên tố chính. Khi chết, nguyên tố đất (trong cơ thể) hòa nhập trở lại với thể đất (bên ngoài). Nguyên tố lửa hòa nhập trở lại với thể lửa bên ngoài. Nguyên tố nước hòa nhập trở lại với thể nước bên ngoài. Nguyên tố gió hòa nhập trở lại với thể gió bên ngoài. Các giác quan phân tán vào hư không. Bốn người, cùng chiếc quan tài là năm, khiêng xác chết. Lời điếu văn chỉ vang xa trong phạm vi nghĩa địa. Xương chuyển sang màu bồ câu. Đồ cúng cuối cùng cũng ra tro. Kẻ ngu mới dạy rộng lượng. Lời của những người nói về sự tồn tại sau khi chết là nói sai, nói nhảm. Khi thân xác tan rã, cả người trí lẫn kẻ ngu đều bị diệt vong, hoại diệt, không tồn tại sau khi chết.’ Như vậy, khi được hỏi về thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, thầy Ajita Kesakambalin lại trả lời rằng chết là hết. Giống như hỏi về quả xoài lại trả lời về quả mít, hỏi về quả mít lại trả lời về quả xoài. Cũng vậy, khi được hỏi về thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, thầy Ajita Kesakambalin lại trả lời rằng chết là hết. Con nghĩ: ‘Làm sao một người như con có thể nghĩ đến chuyện hạ thấp một nhà tu hành hay bà-la-môn sống trong cõi của họ được?’. Nhưng con không hoan hỷ, cũng không phản đối lời của thầy Ajita Kesakambalin. Không hoan hỷ, cũng không phản đối, con không thỏa mãn. Không tỏ ra bất mãn, cũng không đón nhận, chấp nhận lời dạy của thầy ấy, con đứng dậy ra về.” |
| Non-relatedness “Another time I approached Pakudha Kaccāyana and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings and courtesies, I sat to one side. As I was sitting there I asked him: ‘Venerable Kaccāna, there are these common craftsmen.… They live off the fruits of their crafts, visible in the here & now.… Is it possible, venerable sir, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here & now?’ “When this was said, Pakudha Kaccāyana said to me, ‘Great king, there are these seven substances—unmade, irreducible, uncreated, without a creator, barren, stable as a mountain-peak, standing firm like a pillar—that do not alter, do not change, do not interfere with one another, are incapable of causing one another pleasure, pain, or both pleasure and pain. Which seven? The earth-substance, the liquid-substance, the fire-substance, the wind-substance, pleasure, pain, and the soul as the seventh. These are the seven substances—unmade, irreducible, uncreated, without a creator, barren, stable as a mountain-peak, standing firm like a pillar—that do not alter, do not change, do not interfere with one another, and are incapable of causing one another pleasure, pain, or both pleasure and pain. “‘And among them there is no killer nor one who causes killing, no hearer nor one who causes hearing, no cognizer nor one who causes cognition. When one cuts off (another person’s) head, there is no one taking anyone’s life. It is simply between the seven substances that the sword passes.’ “Thus, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here & now, Pakudha Kaccāyana answered with non-relatedness. Just as if a person, when asked about a mango, were to answer with a breadfruit; or, when asked about a breadfruit, were to answer with a mango. In the same way, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here & now, Pakudha Kaccāyana answered with non-relatedness. The thought occurred to me: ‘How can anyone like me think of disparaging a contemplative or brahman living in his realm?’ Yet I neither delighted in Pakudha Kaccāyana’s words nor did I protest against them. Neither delighting nor protesting, I was dissatisfied. Without expressing dissatisfaction, without accepting his teaching, without adopting it, I got up from my seat and left. | Không liên quan “Lần khác, con đến chỗ thầy Pakudha Kaccāyana. Đến nơi, sau khi chào hỏi thầy ấy, con ngồi xuống một bên và hỏi: ‘Thưa Tôn giả Kaccāna, có những người lành nghề bình thường (…) Họ sống dựa trên thành quả nghề nghiệp của mình, hữu hình ngay trong hiện tại. (…) Thưa Tôn giả, liệu có thể chỉ ra một thành quả tương tự của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại không?’ Nghe xong, thầy Pakudha Kaccāyana nói với con: ‘Thưa Đại Vương, có bảy thể – không được làm ra, không thể giảm thiểu, không được tạo ra, không do ai tạo ra, không sinh sản, vững chãi như đỉnh núi, đứng vững như trụ cột – không biến đổi, không thay đổi, không can thiệp vào nhau, không thể gây ra cho nhau vui, khổ, hoặc cả vui và khổ. Đó là bảy thể nào? Thể đất, thể nước, thể lửa, thể gió, vui, khổ, và thứ bảy là linh hồn. Đây là bảy thể – không được làm ra, không thể giảm thiểu, không được tạo ra, không do ai tạo ra, không sinh sản, vững chãi như đỉnh núi, đứng vững như trụ cột – không biến đổi, không thay đổi, không can thiệp vào nhau, không thể gây ra cho nhau vui, khổ, hoặc cả vui và khổ. Và giữa bảy thể này, không có người giết hại hay người gây ra sự giết hại, không có người nghe hay người gây ra sự nghe, không có người nhận thức hay người gây ra sự nhận thức. Khi người ta dùng thanh kiếm chặt đầu người khác, không có ai lấy mạng ai cả. Chỉ là thanh kiếm xuyên qua giữa bảy thể này mà thôi.’ Như vậy, khi được hỏi về thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, thầy Pakudha Kaccāyana lại trả lời rằng không có sự liên quan. Giống như hỏi về quả xoài lại trả lời về quả mít, hỏi về quả mít lại trả lời về quả xoài. Cũng vậy, khi được hỏi về thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, thầy Pakudha Kaccāyana lại trả lời rằng không có sự liên quan. Con nghĩ: ‘Làm sao một người như con có thể nghĩ đến chuyện hạ thấp một nhà tu hành hay bà-la-môn sống trong cõi của họ được?’. Nhưng con không hoan hỷ, cũng không phản đối lời của thầy Pakudha Kaccāyana. Không hoan hỷ, cũng không phản đối, con không thỏa mãn. Không tỏ ra bất mãn, cũng không đón nhận, chấp nhận lời dạy của thầy ấy, con đứng dậy ra về.” |
| Fourfold Restraint “Another time I approached Nigaṇṭha Nāṭaputta and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings and courtesies, I sat to one side. As I was sitting there I asked him: ‘Venerable Aggivessana, there are these common craftsmen.… They live off the fruits of their crafts, visible in the here & now.… Is it possible, venerable sir, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here & now?’ “When this was said, Nigaṇṭha Nāṭaputta said to me, ‘Great king, there is the case where the Nigaṇṭha—the knotless one—is restrained with the fourfold restraint. And how is the Nigaṇṭha restrained with the fourfold restraint? There is the case where the Nigaṇṭha is obstructed by all waters, conjoined with all waters, cleansed with all waters, suffused with all waters. This is how the Nigaṇṭha is restrained with the fourfold restraint. When the Nigaṇṭha—a knotless one—is restrained with such a fourfold restraint, he is said to be a Knotless One [Nigaṇṭha], a son of Nāṭa [Nāṭaputta], with his self perfected, his self controlled, his self established.’ “Thus, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here & now, Nigaṇṭha Nāṭaputta answered with fourfold restraint. Just as if a person, when asked about a mango, were to answer with a breadfruit; or, when asked about a breadfruit, were to answer with a mango: In the same way, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here & now, Nigaṇṭha Nāṭaputta answered with fourfold restraint. The thought occurred to me: ‘How can anyone like me think of disparaging a contemplative or brahman living in his realm?’ Yet I neither delighted in Nigaṇṭha Nāṭaputta’s words nor did I protest against them. Neither delighting nor protesting, I was dissatisfied. Without expressing dissatisfaction, without accepting his teaching, without adopting it, I got up from my seat and left. | Kiềm chế bằng bốn giới “Lần khác, con đến chỗ thầy Nigaṇṭha Nāṭaputta. Đến nơi, sau khi chào hỏi thầy ấy, con ngồi xuống một bên và hỏi: ‘Thưa Tôn giả Aggivessana, có những người lành nghề bình thường (…) Họ sống dựa trên thành quả nghề nghiệp của mình, hữu hình ngay trong hiện tại. (…) Thưa Tôn giả, liệu có thể chỉ ra một thành quả tương tự của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại không?’ Nghe xong, thầy Nigaṇṭha Nāṭaputta nói với con: ‘Thưa Đại Vương, có trường hợp người Nigaṇṭha – người không ràng buộc – được kiềm chế bằng bốn giới. Vậy người Nigaṇṭha được kiềm chế bằng bốn giới như thế nào? Đó là khi người Nigaṇṭha bị cản trở bởi tất cả các loại nước, được hợp nhất với tất cả các loại nước, được thanh lọc bằng tất cả các loại nước, và được thấm nhuần tất cả các loại nước. Đây là cách người Nigaṇṭha được kiềm chế bằng bốn giới. Khi một người Nigaṇṭha – người không ràng buộc – được kiềm chế bằng bốn giới như vậy, vị ấy được gọi là Người không ràng buộc [Nigaṇṭha], con của Nāṭa [Nāṭaputta], với bản ngã đã được hoàn thiện, đã được chế ngự và đã được kiến thiết.’ Như vậy, khi được hỏi về thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, thầy Nigaṇṭha Nāṭaputta lại trả lời rằng có sự kiềm chế bằng bốn giới. Giống như hỏi về quả xoài lại trả lời về quả mít, hỏi về quả mít lại trả lời về quả xoài. Cũng vậy, khi được hỏi về thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, thầy Nigaṇṭha Nāṭaputta lại trả lời rằng có sự kiềm chế bằng bốn giới. Con nghĩ: ‘Làm sao một người như con có thể nghĩ đến chuyện hạ thấp một nhà tu hành hay bà-la-môn sống trong cõi của họ được?’. Nhưng con không hoan hỷ, cũng không phản đối lời của thầy Nigaṇṭha Nāṭaputta. Không hoan hỷ, cũng không phản đối, con không thỏa mãn. Không tỏ ra bất mãn, cũng không đón nhận, chấp nhận lời dạy của thầy ấy, con đứng dậy ra về. |
| Evasion “Another time I approached Sañjaya Velaṭṭhaputta and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings and courtesies, I sat to one side. As I was sitting there I asked him: ‘Venerable Sañjaya, there are these common craftsmen.… They live off the fruits of their crafts, visible in the here & now.… Is it possible, venerable sir, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here & now?’ “When this was said, Sañjaya Velaṭṭhaputta said to me, ‘If you ask me if there exists another world (after death), if I thought that there exists another world, would I declare that to you? I don’t think so. I don’t think in that way. I don’t think otherwise. I don’t think not. I don’t think not not. If you asked me if there isn’t another world… both is and isn’t… neither is nor isn’t… if there are beings who transmigrate… if there aren’t… both are and aren’t… neither are nor aren’t… if the Tathāgata exists after death… doesn’t… both… neither exists nor exists after death, would I declare that to you? I don’t think so. I don’t think in that way. I don’t think otherwise. I don’t think not. I don’t think not not.’ “Thus, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here & now, Sañjaya Velaṭṭhaputta answered with evasion. Just as if a person, when asked about a mango, were to answer with a breadfruit; or, when asked about a breadfruit, were to answer with a mango: In the same way, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here & now, Sañjaya Velaṭṭhaputta answered with evasion. The thought occurred to me: ‘This—among these contemplatives & brahmans—is the most foolish and confused of all. How can he, when asked about a fruit of the contemplative life, visible here & now, answer with evasion?’ Still the thought occurred to me: ‘How can anyone like me think of disparaging a contemplative or brahman living in his realm?’ Yet I neither delighted in Sañjaya Velaṭṭhaputta’s words nor did I protest against them. Neither delighting nor protesting, I was dissatisfied. Without expressing dissatisfaction, without accepting his teaching, without adopting it, I got up from my seat and left. | Lảng tránh “Lần khác, con đến chỗ thầy Sañjaya Velaṭṭhaputta. Đến nơi, sau khi chào hỏi thầy ấy, con ngồi xuống một bên và hỏi: ‘Thưa Tôn giả Sañjaya, có những người lành nghề bình thường (…) Họ sống dựa trên thành quả nghề nghiệp của mình, hữu hình ngay trong hiện tại. (…) Thưa Tôn giả, liệu có thể chỉ ra một thành quả tương tự của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại không?’ Nghe xong, thầy Sañjaya Velaṭṭhaputta nói với con: ‘Nếu Ngài hỏi tôi có tồn tại một cõi khác (sau khi chết) hay không, nếu tôi cho rằng có tồn tại một cõi khác, tôi sẽ nói với Ngài sao? Tôi không nghĩ vậy. Tôi không nghĩ theo cách đó. Tôi cũng không nghĩ theo cách khác. Tôi không nghĩ là không. Tôi cũng không nghĩ là không phải là không. Nếu Ngài hỏi tôi liệu có phải là không có cõi khác hay không… vừa có vừa không… không có, cũng không phải là không có cõi khác hay không… liệu có chúng sinh luân hồi chuyển kiếp hay không… không có… vừa có vừa không,.. không có, cũng không phải là không có chúng sinh luân hồi chuyển kiếp hay không…; liệu Như Lai có hiện hữu sau khi chết hay không… không hiện hữu… vừa hiện hữu, vừa không hiện hữu… không hiện hữu, cũng không phải là không hiện hữu sau khi chết hay không, tôi sẽ nói với Ngài sao? Tôi không nghĩ vậy. Tôi không nghĩ theo cách đó. Tôi cũng không nghĩ theo cách khác. Tôi không nghĩ là không. Tôi cũng không nghĩ là không phải là không.’ Như vậy, khi được hỏi về thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, thầy Sañjaya Velaṭṭhaputta lại trả lời một cách lảng tránh. Giống như hỏi về quả xoài lại trả lời về quả mít, hỏi về quả mít lại trả lời về quả xoài. Cũng vậy, khi được hỏi về thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, thầy Sañjaya Velaṭṭhaputta lại trả lời một cách lảng tránh. Con nghĩ: ‘Trong số các nhà tu hành và bà-la-môn này, người này là ngu ngốc, mê muội nhất. Làm sao mà khi được hỏi về thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, lại trả lời một cách lảng tránh chứ?’. Nhưng con vẫn nghĩ: ‘Làm sao một người như con có thể nghĩ đến chuyện hạ thấp một nhà tu hành hay bà-la-môn sống trong cõi của họ được?’. Nhưng con không hoan hỷ, cũng không phản đối lời của thầy Sañjaya Velaṭṭhaputta. Không hoan hỷ, cũng không phản đối, con không thỏa mãn. Không tỏ ra bất mãn, cũng không đón nhận, chấp nhận lời dạy của thầy ấy, con đứng dậy ra về. |
| The First Visible Fruit of the Contemplative Life “So, lord, I ask the Blessed One as well: There are these common craftsmen: elephant-trainers, horse-trainers, charioteers, archers, standard bearers, camp marshals, supply corps officers, high royal officers, commandos, military heroes, armor-clad warriors, leather-clad warriors, domestic slaves, confectioners, barbers, bath attendants, cooks, garland-makers, laundrymen, weavers, basket-makers, potters, calculators, accountants, and any other craftsmen of a similar sort. They live off the fruits of their crafts, visible in the here & now. They give happiness and pleasure to themselves, to their parents, wives, and children, to their friends and colleagues. They put in place an excellent presentation of offerings to contemplatives & brahmans, leading to heaven, resulting in happiness, conducive to a heavenly rebirth. Is it possible, lord, to point out a similar fruit of the contemplative life, visible in the here & now?” “Yes, it is, great king. But first, with regard to that, I will ask you a counter-question. Answer as you see fit. Suppose there were a man of yours: your slave, your workman, rising in the morning before you, going to bed in the evening only after you, doing whatever you order, always acting to please you, speaking politely to you, always watching for the look on your face. The thought would occur to him: ‘Isn’t it amazing? Isn’t it astounding?—the destination, the results, of meritorious deeds. For this King Ajātasattu is a human being, and I, too, am a human being, yet King Ajātasattu enjoys himself supplied and replete with the five strings of sensuality—like a deva, as it were—while I am his slave, his workman… always watching for the look on his face. I, too, should do meritorious deeds. What if I were to shave off my hair and beard, put on the ochre robes, and go forth from the household life into homelessness?’ “So after some time he shaves off his hair & beard, puts on the ochre robes, and goes forth from the household life into homelessness. Having thus gone forth he lives restrained in body, speech, and mind, content with the simplest food and shelter, delighting in solitude. Then suppose one of your men were to inform you: ‘You should know, your majesty, that that man of yours—your slave, your workman… always watching for the look on your face… has gone forth from the household life into homelessness… content with the simplest food and shelter, delighting in solitude.’ Would you, thus informed, say, ‘Bring that man back to me. Make him again be my slave, my workman… always watching for the look on my face!’?” “Not at all, lord. Rather, I am the one who should bow down to him, rise up out of respect for him, invite him to a seat, invite him to accept gifts of robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites for the sick. And I would provide him with righteous safety, defense, and protection.” “So what do you think, great king? With that being the case, is there a visible fruit of the contemplative life, or is there not?” “Yes, lord. With that being the case, there certainly is a visible fruit of the contemplative life.” “This, great king, is the first fruit of the contemplative life, visible in the here & now, that I point out to you.” | Thành quả hữu hình đầu tiên của đời sống tu hành Thưa Thế Tôn, vậy thì con cũng xin được hỏi Thế Tôn rằng: có những người lành nghề bình thường: người huấn luyện voi, người huấn luyện ngựa, người đánh xe ngựa, người bắn cung, người cầm cờ, chỉ huy trưởng trại lính, sĩ quan quân đoàn tiếp tế, sĩ quan hoàng gia cấp cao, đặc công, anh hùng quân đội, chiến binh áo giáp, chiến binh áo da, nô lệ trong nhà, thợ làm bánh kẹo, thợ cắt tóc, người phục vụ phòng tắm, đầu bếp, người làm vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, thợ đan rổ, thợ gốm, nhà toán số, kế toán, v.v. Họ sống dựa trên thành quả nghề nghiệp của mình, hữu hình ngay trong hiện tại. Họ mang lại hạnh phúc và niềm vui cho bản thân, cho cha mẹ, vợ con, bạn bè và đồng nghiệp của mình. Họ dâng cúng lễ vật thịnh soạn cho các vị tu hành và bà-la-môn, dẫn đến phước báu cõi Trời, mang lại hạnh phúc, giúp họ tái sinh cõi Trời. Thưa Thế Tôn, liệu có thể chỉ ra một thành quả tương tự của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại không?” “Có, Đại Vương. Nhưng về điều đó, trước tiên Ta sẽ hỏi ngược lại Ngài một câu. Ngài nghĩ sao cứ trả lời. Giả sử có một người của Ngài – nô bộc, người làm công của Ngài, buổi sáng thức dậy trước Ngài, buổi tối đi ngủ sau Ngài, thi hành mọi mệnh lệnh của Ngài, luôn cố gắng làm hài lòng Ngài, nói chuyện cung kính với Ngài, luôn để ý đến nét mặt Ngài. Người ấy suy nghĩ: ‘Thật kỳ diệu thay, thật kinh ngạc thay đích đến và kết quả của những việc làm công đức, chẳng phải sao? Vì Vua A-xà-thế là con người, mình cũng là con người, nhưng Vua A-xà-thế được tận hưởng cuộc sống với đầy đủ năm dục lạc – như một vị tiên, trong khi mình là nô bộc của Ngài, người làm công của Ngài (…) luôn để ý đến nét mặt Ngài. Mình cũng nên làm công đức. Hay là mình cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình, xuất gia tu đạo nhỉ?’ Thế là sau một thời gian, người ấy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống kiềm chế trong hành động, lời nói và tâm ý (thân, khẩu, ý) của mình, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống và chỗ trú, hoan hỷ với đời sống ẩn tu một mình. Rồi giả sử một người của Ngài đến tâu với Ngài rằng: ‘Tâu Bệ hạ, Bệ hạ biết không, người đó của Bệ hạ – nô bộc, người làm công của Bệ hạ (…) luôn để ý đến nét mặt Bệ hạ (…) đã từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình, xuất gia tu đạo, (…) bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống và chỗ trú, hoan hỷ với đời sống ẩn tu một mình.’ Khi hay tin như vậy, liệu Bệ hạ có nói: ‘Hãy đưa người đó trở về với Ta, bắt trở lại làm nô bộc, người làm công của Ta (…) luôn để ý đến nét mặt Ta!’ không?” “Thưa Thế Tôn, không bao giờ. Trái lại, con mới là người vì tôn kính mà chắp tay cúi chào vị ấy, đứng dậy, mời vị ấy ngồi, mời vị ấy thọ nhận vật phẩm cúng dường như y phục, đồ ăn khất thực, chỗ trú và thuốc men thiết yếu trị bệnh. Và con sẽ mang lại cho vị ấy sự an toàn, che chở và bảo vệ chính đáng.” “Vậy theo Đại Vương, trong trường hợp đó thì có hay không có thành quả hữu hình của đời sống tu hành?” “Thưa Thế Tôn, có. Trong trường hợp đó thì chắc chắn là có thành quả hữu hình của đời sống tu hành.” “Đại Vương, đây chính là thành quả đầu tiên của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, mà Ta chỉ ra cho Ngài.” |
| The Second Visible Fruit of the Contemplative Life “But is it possible, lord, to point out yet another fruit of the contemplative life, visible in the here & now?” “Yes, it is, great king. But first, with regard to that, I will ask you a counter-question. Answer however you please. Suppose there were a man of yours: a farmer, a householder, a taxpayer swelling the royal treasury. The thought would occur to him: ‘Isn’t it amazing? Isn’t it astounding?—the destination, the results, of meritorious deeds! For this King Ajātasattu is a human being, and I, too, am a human being, yet King Ajātasattu enjoys himself supplied and replete with the five strings of sensuality—like a deva, as it were—while I am a farmer, a householder, a taxpayer swelling the royal treasury. I, too, should do meritorious deeds. What if I were to shave off my hair and beard, put on the ochre robes, and go forth from the household life into homelessness?’ “So after some time he abandons his mass of wealth, large or small; leaves his circle of relatives, large or small; shaves off his hair and beard, puts on the ochre robes, and goes forth from the household life into homelessness. Having thus gone forth he lives restrained in body, speech, and mind, content with the simplest food and shelter, delighting in solitude. Then suppose one of your men were to inform you: ‘You should know, your majesty, that that man of yours—the farmer, the householder, the taxpayer swelling the royal treasury… has gone forth from the household life into homelessness… content with the simplest food & shelter, delighting in solitude.’ Would you, thus informed, say, ‘Bring that man back to me. Make him again be a farmer, a householder, a taxpayer swelling the royal treasury!’?” “Not at all, lord. Rather, I am the one who should bow down to him, rise up out of respect for him, invite him to a seat, invite him to accept gifts of robes, almsfood, lodgings, & medicinal requisites for the sick. And I would provide him with righteous safety, defense, and protection.” “So what do you think, great king? With that being the case, is there a visible fruit of the contemplative life, or is there not?” “Yes, lord. With that being the case, there certainly is a visible fruit of the contemplative life.” “This, great king, is the second fruit of the contemplative life, visible in the here & now, that I point out to you.” | Thành quả hữu hình thứ hai của đời sống tu hành “Thưa Thế Tôn, nhưng có thể chỉ ra một thành quả khác nữa của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại không?” “Có, Đại Vương. Nhưng về điều đó, trước tiên Ta sẽ hỏi ngược lại Ngài một câu. Ngài nghĩ sao cứ trả lời. Giả sử có một người của Ngài: một người nông dân, gia chủ, người nộp thuế, làm giàu công khố. Người ấy suy nghĩ: ‘Thật kỳ diệu thay, thật kinh ngạc thay đích đến và kết quả của những việc làm công đức, chẳng phải sao? Vì Vua A-xà-thế là con người, mình cũng là con người, nhưng Vua A-xà-thế được tận hưởng cuộc sống với đầy đủ năm dục lạc – như một vị tiên, trong khi mình là một người nông dân, gia chủ, người nộp thuế, làm giàu công khố. Mình cũng nên làm công đức. Hay là mình cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình, xuất gia tu đạo nhỉ?’ Thế là sau một thời gian, người ấy từ bỏ khối tài sản lớn, nhỏ của mình; rời bỏ vòng tròn người thân lớn, nhỏ của mình; cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống kiềm chế trong hành động, lời nói và tâm ý của mình, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống và chỗ trú, hoan hỷ với đời sống ẩn tu một mình. Rồi giả sử một người của Ngài đến tâu với Ngài rằng: ‘Tâu Bệ hạ, Bệ hạ biết không, người đó của Bệ hạ – người nông dân, gia chủ, người nộp thuế, làm giàu công khố (…) đã từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình, xuất gia tu đạo, (…) bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống và chỗ trú, hoan hỷ với đời sống ẩn tu một mình.’ Khi hay tin như vậy, liệu Bệ hạ có nói: ‘Hãy đưa người đó trở về với Ta, bắt trở lại làm nông dân, gia chủ, người nộp thuế, làm giàu công khố cho Ta!’ không?” “Thưa Thế Tôn, không bao giờ. Trái lại, con mới là người vì tôn kính mà chắp tay cúi chào vị ấy, đứng dậy, mời vị ấy ngồi, mời vị ấy thọ nhận vật phẩm cúng dường như y phục, đồ ăn khất thực, chỗ trú và thuốc men thiết yếu trị bệnh. Và con sẽ mang lại cho vị ấy sự an toàn, che chở và bảo vệ chính đáng.” “Vậy theo Đại Vương, trong trường hợp đó thì có hay không có thành quả hữu hình của đời sống tu hành?” “Thưa Thế Tôn, có. Trong trường hợp đó thì chắc chắn là có thành quả hữu hình của đời sống tu hành.” “Đại Vương, đây chính là thành quả thứ hai của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, mà Ta chỉ ra cho Ngài.” |
| Higher Fruits of the Contemplative Life “But is it possible, lord, to point out yet another fruit of the contemplative life, visible in the here & now?” “Yes, it is, great king. Listen and pay close attention. I will speak. “There is the case, great king, where a Tathāgata appears in the world, worthy & rightly self-awakened. He teaches the Dhamma admirable in its beginning, admirable in its middle, admirable in its end. He proclaims the holy life both in its particulars and in its essence, entirely perfect, surpassingly pure. “A householder or householder’s son, hearing the Dhamma, gains conviction in the Tathāgata and reflects: ‘Household life is confining, a dusty path. Life gone forth is the open air. It isn’t easy, living at home, to practice the holy life totally perfect, totally pure, a polished shell. What if I, having shaved off my hair & beard and putting on the ochre robe, were to go forth from the household life into homelessness?’ “So after some time he abandons his mass of wealth, large or small; leaves his circle of relatives, large or small; shaves off his hair and beard, puts on the ochre robes, and goes forth from the household life into homelessness. “When he has thus gone forth, he lives restrained by the rules of the monastic code, seeing danger in the slightest faults. Consummate in his virtue, he guards the doors of his senses, is possessed of mindfulness and alertness, and is content. | Những thành quả cao hơn của đời sống tu hành “Thưa Thế Tôn, nhưng có thể chỉ ra một thành quả khác nữa của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại không?” “Có, Đại Vương. Hãy chú ý lắng nghe thật kỹ. Ta sẽ nói. Đại Vương, có trường hợp một vị Như Lai xuất hiện trên thế gian, là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đáng tôn kính. Ngài thuyết giảng Chánh pháp vi diệu phần đầu, vi diệu phần giữa và vi diệu phần cuối. Ngài chỉ dạy đời sống thánh khiết cả về chi tiết lẫn cốt lõi, hoàn toàn trọn vẹn, vô cùng thanh tịnh. Một vị gia chủ hay con của một vị gia chủ, sau khi nghe Chánh Pháp, có lòng tin chắc chắn vào Như Lai và suy ngẫm: ‘Đời sống gia đình thật chật hẹp, một con đường đầy bụi nhơ. Đời sống xuất gia là không gian phóng khoáng. Sống tại gia không dễ gì hành trì đời sống thánh khiết hoàn toàn trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh, như chiếc vỏ láng bóng. Hay là mình cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình, xuất gia tu đạo nhỉ?’. Thế là sau một thời gian, vị ấy từ bỏ khối tài sản lớn, nhỏ của mình; rời bỏ vòng tròn người thân lớn, nhỏ của mình; cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, vị ấy sống kiềm chế theo giới luật tu sĩ, nhìn thấy nguy hiểm trong những lỗi lầm nhỏ nhất. Với giới hạnh tột bậc, vị ấy phòng hộ các cửa giác quan của mình, chánh niệm, tỉnh giác, và biết đủ. |
| The Lesser Section on Virtue “And how is a monk consummate in virtue? Abandoning the taking of life, he abstains from the taking of life. He dwells with his rod laid down, his knife laid down, scrupulous, merciful, compassionate for the welfare of all living beings. This is part of his virtue. “Abandoning the taking of what is not given, he abstains from taking what is not given. He takes only what is given, accepts only what is given, lives not by stealth but by means of a self that has become pure. This, too, is part of his virtue. “Abandoning uncelibacy, he lives a celibate life, aloof, refraining from the sexual act that is the villager’s way. This, too, is part of his virtue. “Abandoning false speech, he abstains from false speech. He speaks the truth, holds to the truth, is firm, reliable, no deceiver of the world. This, too, is part of his virtue. “Abandoning divisive speech he abstains from divisive speech. What he has heard here he does not tell there to break those people apart from these people here. What he has heard there he does not tell here to break these people apart from those people there. Thus reconciling those who have broken apart or cementing those who are united, he loves concord, delights in concord, enjoys concord, speaks things that create concord. This, too, is part of his virtue. “Abandoning abusive speech, he abstains from abusive speech. He speaks words that are soothing to the ear, that are affectionate, that go to the heart, that are polite, appealing and pleasing to people at large. This, too, is part of his virtue. “Abandoning idle chatter, he abstains from idle chatter. He speaks in season, speaks what is factual, what is in accordance with the goal, the Dhamma, & the Vinaya. He speaks words worth treasuring, seasonable, reasonable, circumscribed, connected with the goal. This, too, is part of his virtue. “He abstains from damaging seed & plant life. “He eats only once a day, refraining from the evening meal and from food at the wrong time of day. “He abstains from dancing, singing, instrumental music, and from watching shows. “He abstains from wearing garlands and from beautifying himself with scents & cosmetics. “He abstains from high and luxurious beds & seats. “He abstains from accepting gold & money. “He abstains from accepting uncooked grain… raw meat… women & girls… male & female slaves… goats & sheep… fowl & pigs… elephants, cattle, steeds, & mares… fields & property. “He abstains from running messages… from buying & selling… from dealing with false scales, false metals, & false measures… from bribery, deception, & fraud. “He abstains from mutilating, executing, imprisoning, highway robbery, plunder, & violence. “This, too, is part of his virtue. | Tiểu phần về giới hạnh Và thế nào là vị tỳ-kheo có giới hạnh tột bậc? Từ bỏ sát sinh, vị ấy không sát sinh. Gác gậy, gác dao, vị ấy sống thận trọng, giàu lòng từ bi và thương xót vì sự an lạc của tất cả chúng sinh. Đây là một phần giới hạnh của vị ấy. Từ bỏ việc lấy của không cho, vị ấy không lấy của không cho. Vị ấy chỉ lấy của được cho, chỉ nhận của được cho, sống không phải bằng cách vụng trộm lén lút, mà bằng tư cách của một con người đã trở nên thanh tịnh. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Từ bỏ quan hệ luyến ái, vị ấy sống đời độc thân, cách biệt, không quan hệ tình dục như người thế tục. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Từ bỏ nói dối, vị ấy không nói dối. Vị ấy nói sự thật, trung thành với sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phải là người lừa gạt thế gian. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Từ bỏ nói lời chia rẽ, vị ấy không nói lời chia rẽ. Những gì nghe được bên đây, vị ấy không nói với bên kia để chia rẽ những người bên kia với những người bên đây. Những gì nghe được bên kia, vị ấy không nói với bên đây để chia rẽ những người bên đây với những người bên kia. Như vậy, hòa giải những người chia rẽ, hoặc gắn kết thêm những người hòa hợp, vị ấy yêu sự hòa hợp, hoan hỷ với sự hòa hợp, vui mừng trong sự hòa hợp, nói những điều tạo nên sự hòa hợp. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Từ bỏ nói lời thô lỗ, vị ấy không nói lời thô lỗ. Vị ấy nói lời dễ nghe, chứa đựng tình yêu thương, đi vào lòng người, lịch sự, lý thú và đẹp lòng nhiều người. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Từ bỏ nói lời vô bổ, vị ấy không nói lời vô bổ. Vị ấy nói đúng lúc, nói những điều đúng sự thật, những điều phù hợp với mục đích tu tập, Chánh Pháp và Giới luật. Vị ấy nói những lời đáng trân quý, đúng lúc, hợp lý, có giới hạn, liên quan đến mục đích tu tập. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Vị ấy không làm hại sự sống của hạt giống và thực vật. Vị ấy chỉ ăn một bữa mỗi ngày, không ăn bữa tối và không ăn phi thời (không đúng thời điểm) trong ngày. Vị ấy không nhảy múa, ca hát, chơi nhạc cụ và xem các chương trình biểu diễn. Vị ấy không đeo vòng hoa, và không làm đẹp bằng hương thơm, mỹ phẩm. Vị ấy không sử dụng chỗ nằm và chỗ ngồi cao cấp, xa hoa. Vị ấy không nhận vàng và tiền. Vị ấy không nhận ngũ cốc sống… thịt sống… phụ nữ và trẻ em gái… nô bộc nam, nữ… dê, cừu… gia cầm, lợn… voi, gia súc, ngựa và lừa… ruộng nương và của cải. Vị ấy không đưa tin… không mua bán… không giao dịch với cân sai, đo sai, kim loại giả… không hối lộ, lừa đảo và gian lận. Vị ấy không cắt xẻo, hành quyết, giam cầm, cướp đường, cướp bóc và bạo lực. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. |
| The Intermediate Section on Virtue “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, remain addicted to damaging seed and plant life such as these—plants propagated from roots, stems, joints, buddings, and seeds—he abstains from damaging seed and plant life such as these. This, too, is part of his virtue. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, remain addicted to consuming stored-up goods such as these—stored-up food, stored-up drinks, stored-up clothing, stored-up vehicles, stored-up bedding, stored-up scents, and stored-up meat—he abstains from consuming stored-up goods such as these. This, too, is part of his virtue. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, remain addicted to watching shows such as these—dancing, singing, instrumental music, plays, ballad recitations, hand-clapping, cymbals and drums, magic-lantern scenes, acrobatic and conjuring tricks, elephant fights, horse fights, buffalo fights, bull fights, goat fights, ram fights, cock fights, quail fights; fighting with staves, boxing, wrestling, war-games, roll calls, battle arrays, and regimental reviews—he abstains from watching shows such as these. This, too, is part of his virtue. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, remain addicted to heedless and idle games such as these—eight-row chess, ten-row chess, chess in the air, hopscotch, spillikins, dice, stick games, hand-pictures, ball-games, blowing through toy pipes, playing with toy plows, turning somersaults, playing with toy windmills, toy measures, toy chariots, toy bows, guessing letters drawn in the air, guessing thoughts, mimicking deformities—he abstains from heedless and idle games such as these. This, too, is part of his virtue. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, remain addicted to high and luxurious furnishings such as these—over-sized couches, couches adorned with carved animals, long-haired coverlets, multi-colored patchwork coverlets, white woolen coverlets, woolen coverlets embroidered with flowers or animal figures, stuffed quilts, coverlets with fringe, silk coverlets embroidered with gems; large woolen carpets; elephant, horse, and chariot rugs, antelope-hide rugs, deer-hide rugs; couches with canopies, couches with red cushions for the head and feet—he abstains from using high and luxurious furnishings such as these. This, too, is part of his virtue. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, remain addicted to scents, cosmetics, and means of beautification such as these—rubbing powders into the body, massaging with oils, bathing in perfumed water, kneading the limbs, using mirrors, ointments, garlands, scents, creams, face-powders, mascara, bracelets, head-bands, decorated walking sticks, ornamented water-bottles, swords, fancy sunshades, decorated sandals, turbans, gems, yak-tail whisks, long-fringed white robes—he abstains from using scents, cosmetics, and means of beautification such as these. This, too, is part of his virtue. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, remain addicted to talking about lowly topics such as these—talking about kings, robbers, ministers of state; armies, alarms, and battles; food and drink; clothing, furniture, garlands, and scents; relatives; vehicles; villages, towns, cities, the countryside; women and heroes; the gossip of the street and the well; tales of the dead; tales of diversity [philosophical discussions of the past and future], the creation of the world and of the sea, and talk of whether things exist or not—he abstains from talking about lowly topics such as these. This, too, is part of his virtue. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, remain addicted to debates such as these—‘You understand this doctrine and discipline? I’m the one who understands this doctrine and discipline. How could you understand this doctrine and discipline? You’re practicing wrongly. I’m practicing rightly. I’m being consistent. You’re not. What should be said first you said last. What should be said last you said first. What you took so long to think out has been refuted. Your doctrine has been overthrown. You’re defeated. Go and try to salvage your doctrine; extricate yourself if you can!’—he abstains from debates such as these. This, too, is part of his virtue. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, remain addicted to running messages & errands for people such as these—kings, ministers of state, noble warriors, brahmans, householders, or youths (who say), ‘Go here, go there, take this there, fetch that here’—he abstains from running messages & errands for people such as these. This, too, is part of his virtue. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, engage in scheming, persuading, hinting, belittling, & pursuing gain with gain, he abstains from forms of scheming & persuading [improper ways of trying to gain material support from donors] such as these. This, too, is part of his virtue. | Trung phần về giới hạnh Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, vẫn còn hay làm hại sự sống của hạt giống và thực vật – như thực vật được nhân giống từ rễ, thân, đốt, chồi và hạt; vị ấy không làm hại sự sống của hạt giống và thực vật như thế. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, vẫn còn hay tiêu thụ hàng hóa tích trữ – như đồ ăn tích trữ, đồ uống tích trữ, quần áo tích trữ, xe cộ tích trữ, đồ nằm tích trữ, hương thơm tích trữ và thịt tích trữ; vị ấy không tiêu thụ những hàng hóa tích trữ như thế. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, vẫn còn hay xem các chương trình biểu diễn – như chương trình nhảy múa, ca hát, chơi nhạc cụ, diễn kịch, ngâm thơ, vỗ tay, chơi chập cheng và trống, đèn chiếu hình, nhào lộn và ảo thuật, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò, đấu dê, đấu cừu, đấu gà, đấu chim cút; đấu gậy, đấm bốc, đấu vật, đánh giặc giả, điểm danh, dàn trận và duyệt binh; vị ấy không xem các chương trình biểu diễn như thế. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, vẫn còn hay chơi những trò chơi lông bông, nhàn rỗi – như cờ tám hàng, cờ mười hàng, cờ trên không, ô ăn quan, nhấc thẻ, xúc xắc, chơi khăng, tranh vẽ tay, chơi banh, thổi kèn đồ chơi, chơi cày đồ chơi, lộn nhào, chơi chong chóng, chơi cân đo, chơi xe ngựa đồ chơi, chơi cung đồ chơi, đoán chữ viết trên không, đoán ý nghĩ, bắt chước dị tật; vị ấy không chơi những trò chơi lông bông, nhàn rỗi như thế. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, vẫn còn hay sử dụng những đồ đạc cao cấp, xa hoa – như trường kỷ cỡ lớn, trường kỷ chạm khắc con vật, tấm trải giường lông dài, tấm trải giường chắp ghép nhiều màu, tấm trải giường len trắng, tấm trải giường len thêu hoa hoặc hình con vật, chăn bông, tấm trải giường tua rua, tấm trải giường lụa thêu ngọc; thảm len lớn; thảm voi, ngựa và xe ngựa, thảm da linh dương, thảm da hươu; trường kỷ có màn trướng, trường kỷ có gối đầu, gối chân màu đỏ; vị ấy không sử dụng những đồ đạc cao cấp, xa hoa như thế. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, vẫn còn hay sử dụng hương thơm, mỹ phẩm và các phương tiện làm đẹp – như xoa phấn vào cơ thể, xoa bóp bằng dầu, tắm nước thơm, xoa bóp chân tay, sử dụng gương, thuốc mỡ, vòng hoa, hương thơm, kem, phấn phủ, mascara, vòng tay, băng đô, gậy đi bộ trang trí, bình nước trang trí, gươm, lọng, dép kiểu, khăn xếp, đá quý, quạt chamara đuôi bò Tây Tạng, áo choàng trắng tua dài; vị ấy không sử dụng hương thơm, mỹ phẩm và các phương tiện làm đẹp như thế. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Trong khi có những vị tu hành & bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, vẫn còn hay nói chuyện về những chủ đề tầm thường – như nói chuyện về vua chúa, trộm cướp, đại thần; quân đội, báo động và chiến trận; đồ ăn, thức uống; quần áo, đồ đạc, vòng hoa và hương thơm; bà con; xe cộ; làng mạc, thị trấn, thành phố, nông thôn; phụ nữ và anh hùng; chuyện phiếm bên vỉa hè, giếng nước; câu chuyện về người chết; câu chuyện về sự đa dạng [thảo luận triết học về quá khứ và tương lai], sự tạo dựng thế giới và biển cả, sự hiện hữu hoặc không hiện hữu; vị ấy không nói chuyện về những chủ đề tầm thường như thế. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, vẫn còn hay tham gia vào những cuộc tranh luận – như ‘Anh mà hiểu giáo lý và giới luật này ư? Tôi mới là người hiểu giáo lý và giới luật này. Làm sao anh có thể hiểu giáo lý và giới luật này được? Anh tu sai. Tôi mới tu đúng. Tôi mới nhất quán. Anh không nhất quán. Điều nên nói trước, anh lại nói sau. Điều nên nói sau, anh lại nói trước. Điều anh mất bao nhiêu lâu mới nghĩ ra lại bị bác bỏ. Giáo lý của anh bị lật đổ. Anh thất bại. Giỏi thì thử đi cứu vãn giáo lý của anh xem; tự gỡ cho mình xem!’; vị ấy không tham gia vào những cuộc tranh luận như thế. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, vẫn còn hay đưa tin và chạy việc vặt cho người ta – như cho vua chúa, đại thần, chiến binh cao quý, bà-la-môn, gia chủ hoặc thanh niên: ‘Đi chỗ này, đi chỗ kia, mang cái này đến chỗ kia, lấy cái kia về đây’; vị ấy không đưa tin và chạy việc vặt như thế. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, vẫn còn tham gia vào những chuyện mưu mô, thuyết phục, bóng gió, hạ thấp, và dùng lợi để mưu lợi; vị ấy tránh xa những hình thức mưu mô và thuyết phục [những phương thức bất chính để cố gắng có được sự hỗ trợ vật chất từ người cho tặng] như thế. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. |
| The Great Section on Virtue “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, maintain themselves by wrong livelihood, by such “animal” arts as: reading marks on the limbs [e.g., palmistry]; reading omens & signs; interpreting celestial events [falling stars, comets]; interpreting dreams; reading features of the body [e.g., phrenology]; reading marks on cloth gnawed by mice; offering fire oblations, oblations from a ladle, oblations of husks, rice powder, rice grains, ghee, & oil; offering oblations from the mouth; offering blood-sacrifices; making predictions based on the fingertips; geomancy; making predictions for state officials; laying demons in a cemetery; placing spells on spirits; earth-skills [divining water and gems?]; snake-skills, poison-skills, scorpion-skills, rat-skills, bird-skills, crow-skills; predicting life spans; giving protective charms; casting horoscopes— he abstains from wrong livelihood, from “animal” arts such as these. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, maintain themselves by wrong livelihood, by such “animal” arts as: determining lucky & unlucky gems, staffs, garments, swords, arrows, bows, & other weapons; women, men, boys, girls, male slaves, female slaves; elephants, horses, buffaloes, bulls, cows, goats, rams, fowl, quails, lizards, rabbits, tortoises, & other animals—he abstains from wrong livelihood, from “animal” arts such as these. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, maintain themselves by wrong livelihood, by such “animal” arts as (forecasting): the rulers will march forth; the rulers will not march forth; our rulers will attack, and their rulers will retreat; their rulers will attack, and our rulers will retreat; there will be triumph for our rulers and defeat for their rulers; there will be triumph for their rulers and defeat for our rulers; thus there will be triumph for this one, defeat for that one— he abstains from wrong livelihood, from “animal” arts such as these. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, maintain themselves by wrong livelihood, by such “animal” arts as (forecasting): there will be a lunar eclipse; there will be a solar eclipse; there will be an occultation of [a conjunction of the moon or a planet with] an asterism; the sun & moon will be favorable; the sun & moon will be unfavorable; the asterisms will be favorable; the asterisms will be unfavorable; there will be a meteor shower; there will be a flickering light on the horizon [an aurora?]; there will be an earthquake; there will be thunder coming from dry clouds; there will be a rising, a setting, a darkening, a brightening of the sun, moon, & asterisms; such will be the result of the lunar eclipse… the rising, setting, darkening, brightening of the sun, moon, & asterisms— he abstains from wrong livelihood, from “animal” arts such as these. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, maintain themselves by wrong livelihood, by such “animal” arts as (forecasting): there will be abundant rain; there will be a drought; there will be plenty; there will be famine; there will be rest and security; there will be danger; there will be disease; there will be freedom from disease; or they earn their living by accounting, counting, calculation, composing poetry, or teaching hedonistic arts & doctrines [lokāyata]— he abstains from wrong livelihood, from “animal” arts such as these. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, maintain themselves by wrong livelihood, by such “animal” arts as: calculating auspicious dates for marriages—both those in which the bride is brought home and those in which she is sent out; calculating auspicious dates for betrothals and divorces; for collecting debts or making investments and loans; reciting charms to make people attractive or unattractive; curing women who have undergone miscarriages or abortions; reciting spells to bind a man’s tongue, to paralyze his jaws, to make him lose control over his hands, or to bring on deafness; getting oracular answers to questions addressed to a spirit in a mirror, in a young girl, or to a spirit medium; worshipping the sun, worshipping the Great Brahmā, bringing forth flames from the mouth, invoking the goddess of luck— he abstains from wrong livelihood, from “animal” arts such as these. “Whereas some contemplatives & brahmans, living off food given in faith, maintain themselves by wrong livelihood, by such “animal” arts as: promising gifts to deities in return for favors; fulfilling such promises; demonology; reciting spells in earth houses [see earth skills, above]; inducing virility and impotence; preparing sites for construction; consecrating sites for construction; giving ceremonial mouthwashes and ceremonial baths; offering sacrificial fires; administering emetics, purges, purges from above, purges from below, head-purges; ear-oil, eye-drops, treatments through the nose, ointments, and counter-ointments; practicing eye-surgery [or: extractive surgery], general surgery, pediatrics; administering root-medicines and binding medicinal herbs— he abstains from wrong livelihood, from “animal” arts such as these. This, too, is part of his virtue. | Đại phần về giới hạnh Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, lại duy trì cuộc sống bằng những tà mạng (sinh kế tà vạy) như: xem tướng tay chân [ví dụ: xem chỉ tay]; đọc điềm báo và dấu hiệu; đọc hiện tượng thiên văn [sao băng, sao chổi]; đọc giấc mơ; đọc các đặc điểm của cơ thể [ví dụ: nhân tướng học]; đọc dấu chuột cắn trên vải; cúng lửa, cúng bằng muôi, cúng vỏ trấu, cúng bột gạo, cúng hạt gạo, cúng bơ ghee và cúng dầu; cúng tụng (cúng bằng miệng); tế máu; xem tướng ngón tay; phong thủy; dự đoán cho quan chức nhà nước; trấn yêu ở nghĩa trang; yểm bùa lên linh hồn; kỹ năng về đất [tìm kiếm nước thánh và đá quý?]; kỹ năng xử lý rắn, kỹ năng xử lý thuốc độc, kỹ năng xử lý bọ cạp, kỹ năng xử lý chuột, kỹ năng xử lý chim, kỹ năng xử lý quạ; dự đoán tuổi thọ; cung cấp bùa hộ mệnh; xem tử vi; vị ấy tránh xa những tà mạng như thế. Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, lại duy trì cuộc sống bằng những tà mạng như: xác định ngọc may mắn và không may mắn, gậy may mắn và không may mắn, quần áo, kiếm, mũi tên, cung tên và các loại vũ khí khác; phụ nữ, đàn ông, trẻ em trai, trẻ em gái, nô bộc nam, nô bộc nữ; voi, ngựa, trâu, bò đực, bò cái, dê, cừu đực, gia cầm, chim cút, thằn lằn, thỏ, rùa và các loài động vật khác, là may mắn hoặc không may mắn; vị ấy tránh xa những tà mạng như thế. Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, lại duy trì cuộc sống bằng những tà mạng như (dự đoán): vua sẽ tiến quân; vua sẽ không tiến quân; vua ta sẽ tấn công, vua họ sẽ rút lui; vua họ sẽ tấn công, vua ta sẽ rút lui; vua ta sẽ thắng trận, vua họ sẽ bại trận; vua họ sẽ thắng trận, vua ta sẽ bại trận; như vậy, phe này sẽ thắng trận, phe kia sẽ bại trận; vị ấy tránh xa những tà mạng như thế. Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, lại duy trì cuộc sống bằng những tà mạng như (dự đoán): sẽ có nguyệt thực; sẽ có nhật thực; sẽ có sự che khuất của [sự giao thoa của Mặt Trăng hoặc một hành tinh với] một chòm sao (tinh thực); Mặt Trời và Mặt Trăng sẽ thuận; Mặt Trời và Mặt Trăng sẽ không thuận; các chòm sao sẽ thuận; các chòm sao sẽ không thuận; sẽ có mưa sao băng; sẽ có luồng sáng chấp chới ở chân trời [cực quang?]; sẽ có động đất; sẽ có sấm sét từ đám mây khô; Mặt Trời, Mặt Trăng và các chòm sao sẽ mọc, lặn, tối dần, sáng dần; đó sẽ là kết quả của nguyệt thực… sự mọc, lặn, tối dần, sáng dần của Mặt Trời, Mặt Trăng và các chòm sao; vị ấy tránh xa những tà mạng như thế. Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, lại duy trì cuộc sống bằng những tà mạng như (dự đoán): sẽ có mưa nhiều; sẽ có hạn hán; sẽ có sung túc; sẽ có đói kém; sẽ được an ổn; sẽ gặp nguy hiểm; sẽ có bệnh; sẽ không có bệnh; hoặc họ kiếm sống bằng nghề kế toán, tính đếm, tính toán, làm thơ, hoặc dạy về nghệ thuật và chủ nghĩa khoái lạc [lokāyata]; vị ấy tránh xa những tà mạng như thế. Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, lại duy trì cuộc sống bằng những tà mạng như: tính ngày lành để kết hôn – cả ngày đón dâu và ngày đưa dâu; tính ngày lành để đính hôn, ly hôn; để đòi nợ hoặc đầu tư, cho vay; đọc bùa chú để khiến người ta trở nên hấp dẫn hoặc không hấp dẫn; chữa trị cho phụ nữ bị sảy thai hoặc phá thai; đọc thần chú để làm cứng lưỡi, cứng hàm, tê liệt bàn tay hoặc bị điếc; hỏi linh hồn trong gương, hỏi linh hồn nhập vào thiếu nữ hoặc nhà ngoại cảm; thờ Mặt Trời, thờ Đại Phạm Thiên, phun lửa từ miệng, cầu thần tài; vị ấy tránh xa những tà mạng như thế. Trong khi có những vị tu hành và bà-la-môn, sống dựa trên thức ăn cúng dường của tín thí, lại duy trì cuộc sống bằng những tà mạng như: hứa và thực hiện lời hứa cúng tế thần linh để xin ân huệ; nghiên cứu về ma quỷ; đọc bùa chú trong nhà bằng đất [xem kỹ năng về đất ở trên]; gây cường dương và liệt dương; chuẩn bị mặt bằng để xây dựng; hiến dâng mặt bằng để xây dựng; tiến hành các nghi lễ súc miệng và tắm rửa; hiến tế bằng lửa; gây nôn, gây xổ, xổ từ phía trên, xổ từ phía dưới, thanh lọc đầu; cung cấp dầu tai, thuốc nhỏ mắt, thuốc mỡ và thuốc mỡ đối kháng, điều trị qua đường mũi; phẫu thuật mắt [hoặc: phẫu thuật loại bỏ], phẫu thuật tổng quát, khám chữa bệnh cho trẻ em; cung cấp thuốc rễ cây và pha trộn thảo dược; vị ấy tránh xa những tà mạng. Đây cũng là một phần giới hạnh của vị ấy. |
| Sense Restraint “And how does a monk guard the doors of his senses? On seeing a form with the eye, he does not grasp at any theme or details by which—if he were to dwell without restraint over the faculty of the eye—evil, unskillful qualities such as greed or distress might assail him. On hearing a sound with the ear.… On smelling an aroma with the nose.… On tasting a flavor with the tongue.… On touching a tactile sensation with the body.… On cognizing an idea with the intellect, he does not grasp at any theme or details by which—if he were to dwell without restraint over the faculty of the intellect—evil, unskillful qualities such as greed or distress might assail him. Endowed with this noble restraint over the sense faculties, he is inwardly sensitive to the pleasure of being blameless. This is how a monk guards the doors of his senses. | Kiềm chế giác quan Và thế nào là vị tỳ-kheo phòng hộ các cửa giác quan của mình? Khi mắt nhìn thấy một hình dạng, vị ấy không nắm bắt bất kỳ chủ đề hay chi tiết nào mà qua đó, nếu vị ấy sống không kiềm chế thị giác, những tính chất tâm tà ác, bất thiện xảo (những ác pháp, bất thiện pháp) như tham lam hay đau buồn có thể tấn công vị ấy. Khi tai nghe thấy một âm thanh… Khi mũi ngửi thấy một mùi hương… Khi lưỡi nếm một hương vị… Khi thân cảm nhận một cảm giác xúc chạm… Khi tâm nhận thức một tư tưởng, vị ấy không nắm bắt bất kỳ chủ đề hay chi tiết nào mà qua đó, nếu vị ấy sống không kiềm chế giác quan tâm thức (ý căn) của mình, những tính chất tâm tà ác, bất thiện xảo như tham lam hay đau buồn có thể tấn công vị ấy. Tự trang bị cho mình sự kiềm chế giác quan cao quý này, trong lòng vị ấy nhạy cảm với niềm vui của sự vô tội. Như thế, vị tỳ-kheo phòng hộ các cửa giác quan của mình. |
| Mindfulness & Alertness “And how is a monk possessed of mindfulness & alertness? When going forward & returning, he makes himself alert. When looking toward & looking away.… when bending & extending his limbs.… when carrying his outer cloak, his upper robe, & his bowl.… when eating, drinking, chewing, & tasting.… when urinating & defecating.… when walking, standing, sitting, falling asleep, waking up, talking, & remaining silent, he makes himself alert. This is how a monk is possessed of mindfulness & alertness. | Chánh niệm và tỉnh giác Và thế nào là vị tỳ-kheo có chánh niệm và tỉnh giác? Khi đi tới, đi lui, vị ấy đều tỉnh giác. Khi nhìn thẳng, nhìn ngang… khi co, duỗi chân tay… khi mang y kép, thượng y, bình bát… khi ăn, uống, nhai, nếm… khi tiểu tiện, đại tiện… khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức dậy, nói chuyện, yên lặng, vị ấy đều tỉnh giác. Như thế, vị tỳ-kheo có chánh niệm và tỉnh giác. |
| Contentedness “And how is a monk content? Just as a bird, wherever it goes, flies with its wings as its only burden; so too is he content with a set of robes to provide for his body and alms food to provide for his hunger. Wherever he goes, he takes only his barest necessities along. This is how a monk is content. | Biết đủ Và thế nào là vị tỳ-kheo biết đủ? Giống như chú chim, bay đi đâu cũng chỉ có đôi cánh là gánh nặng duy nhất; cũng vậy, vị ấy bằng lòng với một bộ y phục để che thân và đồ ăn khất thực để làm dịu cơn đói. Đi đâu, vị ấy cũng chỉ mang theo những thứ cần thiết tối thiểu nhất. Như thế, vị tỳ-kheo biết đủ. |
| Abandoning the Hindrances “Endowed with this noble aggregate of virtue, this noble restraint over the sense faculties, this noble mindfulness and alertness, and this noble contentment, he seeks out a secluded dwelling: a wilderness, the shade of a tree, a mountain, a glen, a hillside cave, a charnel ground, a forest grove, the open air, a heap of straw. After his meal, returning from his alms round, he sits down, crosses his legs, holds his body erect, and brings mindfulness to the fore. “Abandoning covetousness with regard to the world, he dwells with an awareness devoid of covetousness. He cleanses his mind of covetousness. Abandoning ill will & anger, he dwells with an awareness devoid of ill will, sympathetic with the welfare of all living beings. He cleanses his mind of ill will & anger. Abandoning sloth & drowsiness, he dwells with an awareness devoid of sloth & drowsiness, mindful, alert, percipient of light. He cleanses his mind of sloth & drowsiness. Abandoning restlessness & anxiety, he dwells undisturbed, his mind inwardly stilled. He cleanses his mind of restlessness & anxiety. Abandoning uncertainty, he dwells having crossed over uncertainty, with no perplexity with regard to skillful qualities. He cleanses his mind of uncertainty. “Suppose that a man, taking a loan, invests it in his business affairs. His business affairs succeed. He repays his old debts and there is extra left over for maintaining his wife. The thought would occur to him, ‘Before, taking a loan, I invested it in my business affairs. Now my business affairs have succeeded. I have repaid my old debts and there is extra left over for maintaining my wife.’ Because of that he would experience joy and happiness. “Now suppose that a man falls sick—in pain and seriously ill. He does not enjoy his meals, and there is no strength in his body. As time passes, he eventually recovers from that sickness. He enjoys his meals and there is strength in his body. The thought would occur to him, ‘Before, I was sick.… Now I am recovered from that sickness. I enjoy my meals and there is strength in my body.’ Because of that he would experience joy and happiness. “Now suppose that a man is bound in prison. As time passes, he eventually is released from that bondage, safe and sound, with no loss of property. The thought would occur to him, ‘Before, I was bound in prison. Now I am released from that bondage, safe and sound, with no loss of my property.’ Because of that he would experience joy and happiness. “Now suppose that a man is a slave, subject to others, not subject to himself, unable to go where he likes. As time passes, he eventually is released from that slavery, subject to himself, not subject to others, freed, able to go where he likes. The thought would occur to him, ‘Before, I was a slave.… Now I am released from that slavery, subject to myself, not subject to others, freed, able to go where I like.’ Because of that he would experience joy and happiness. “Now suppose that a man, carrying money and goods, is traveling by a road through desolate country. As time passes, he eventually emerges from that desolate country, safe and sound, with no loss of property. The thought would occur to him, ‘Before, carrying money and goods, I was traveling by a road through desolate country. Now I have emerged from that desolate country, safe and sound, with no loss of my property.’ Because of that he would experience joy and happiness. “In the same way, when these five hindrances are not abandoned in himself, the monk regards it as a debt, a sickness, a prison, slavery, a road through desolate country. But when these five hindrances are abandoned in himself, he regards it as unindebtedness, good health, release from prison, freedom, a place of security. When he sees that they have been abandoned within him, gladness is born. In one who is gladdened, rapture is born. Enraptured at heart, his body grows calm. His body calm, he is sensitive to pleasure. Feeling pleasure, his mind becomes concentrated. | Loại bỏ chướng ngại (triền cái) Tự trang bị cho mình hết thảy những giới hạnh cao quý này, sự kiềm chế giác quan cao quý này, sự chánh niệm, tỉnh giác cao quý này, và sự biết đủ cao quý này, vị ấy tìm một nơi thanh vắng, như nơi hoang dã, gốc cây, khe núi, thung lũng, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi dùng bữa xong, trở về từ chuyến khất thực, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng, khởi lên và giữ vững chánh niệm. Loại bỏ tham dục ở đời, vị ấy sống với tâm không tham dục, gột rửa tâm hết tham dục. Loại bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, từ bi, thương xót mọi chúng sinh, gột rửa tâm hết sân hận. Loại bỏ dã dượi, buồn ngủ (hôn trầm, thụy miên), vị ấy sống với tâm không dã dượi, buồn ngủ; chánh niệm và tỉnh giác, tâm quán tưởng ánh sáng, gột rửa tâm hết dã dượi, buồn ngủ. Loại bỏ chộn rộn, lo âu (trạo cử, hối quá), vị ấy sống không xao động, nội tâm tĩnh lặng, gột rửa tâm hết chộn rộn, lo âu. Loại bỏ nghi ngờ, vị ấy sống vượt qua sự nghi ngờ, không còn phân vân về các tính chất tâm thiện xảo (thiện pháp), gột rửa tâm hết nghi ngờ. Ví như có người vay tiền để đầu tư kinh doanh. Công việc kinh doanh phát đạt, người ấy không những trả hết nợ cũ, mà còn dư tiền để nuôi vợ. Người ấy nghĩ: ‘Trước kia, mình vay tiền để đầu tư kinh doanh. Giờ đây, công việc kinh doanh phát đạt, mình không những trả hết nợ cũ, mà còn dư tiền để nuôi vợ.’ Vì thế, người ấy cảm thấy vui mừng, hạnh phúc. Ví như có người bị bệnh – đau đớn, ốm yếu, ăn không ngon, thể lực kiệt quệ. Sau một thời gian, cuối cùng người ấy cũng khỏi bệnh, ăn ngon miệng, thể lực phục hồi. Người ấy nghĩ: ‘Trước kia, mình bị bệnh (…) Giờ đây, mình đã khỏi bệnh, ăn ngon miệng, thể lực phục hồi.’ Vì thế, người ấy cảm thấy vui mừng, hạnh phúc. Ví như có người bị nhốt trong ngục tù. Sau một thời gian, cuối cùng người ấy cũng được thả ra, bình an vô sự, không hao tổn tài sản. Người ấy nghĩ: ‘Trước kia, mình bị nhốt trong ngục tù. Giờ đây, mình đã được thả ra, bình an vô sự, không hao tổn tài sản.’ Vì thế, người ấy cảm thấy vui mừng, hạnh phúc. Ví như có người là nô lệ, lệ thuộc vào người khác, không được tự chủ, không được tự do đi lại. Sau một thời gian, cuối cùng người ấy cũng thoát khỏi cảnh nô lệ, không bị lệ thuộc vào người khác, được tự chủ, giải thoát, tự do đi lại. Người ấy nghĩ: ‘Trước kia, mình là nô lệ (…) Giờ đây, mình đã thoát khỏi cảnh nô lệ, không bị lệ thuộc vào người khác, được tự chủ, giải thoát, tự do đi lại’. Vì thế, người ấy cảm thấy vui mừng, hạnh phúc. Ví như có người mang tiền bạc và hàng hóa băng qua hoang mạc. Sau một thời gian, cuối cùng, người ấy cũng ra được khỏi hoang mạc, bình an vô sự, không hao tổn tài sản. Người ấy nghĩ: “Trước kia, mình mang theo tiền bạc và hàng hóa băng qua hoang mạc. Giờ đây, mình đã ra được khỏi hoang mạc, bình an vô sự, không hao tổn tài sản.’ Vì thế, người ấy cảm thấy vui mừng, hạnh phúc. Cũng vậy, khi chưa loại bỏ được năm chướng ngại này nơi mình, vị tỳ-kheo cảm thấy như mắc nợ, mắc bệnh, bị nhốt trong ngục tù, làm nô lệ, băng qua hoang mạc. Nhưng khi đã loại bỏ được năm chướng ngại này nơi mình, vị ấy cảm thấy như hết nợ, khỏi bệnh, thoát khỏi ngục tù, được tự do, đến nơi an toàn. Khi vị ấy thấy năm chướng ngại này đã được loại bỏ nơi mình, niềm vui mừng sinh khởi. Cảm thấy vui mừng, tâm vị ấy sinh khởi niềm hoan hỷ (hỷ). Do tâm hoan hỷ, thân trở nên khinh an. Do thân khinh an, vị ấy liền cảm thấy an lạc (lạc). Cảm thấy an lạc, tâm vị ấy trở nên tập trung (định tĩnh). |
| The Four Jhānas “Quite secluded from sensuality, secluded from unskillful qualities, he enters and remains in the first jhāna: rapture & pleasure born of seclusion, accompanied by directed thought and evaluation. He permeates and pervades, suffuses and fills this very body with the rapture & pleasure born of seclusion. Just as if a dexterous bathman or bathman’s apprentice would pour bath powder into a brass basin and knead it together, sprinkling it again and again with water, so that his ball of bath powder—saturated, moisture-laden, permeated within and without—would nevertheless not drip; even so, the monk permeates…this very body with the rapture & pleasure born of seclusion. There is nothing of his entire body unpervaded by rapture & pleasure born of seclusion. This is a fruit of the contemplative life, visible here & now, more excellent than the previous ones and more sublime. “Then, with the stilling of directed thoughts & evaluations, he enters and remains in the second jhāna: rapture & pleasure born of concentration, unification of awareness free from directed thought & evaluation—internal assurance. He permeates and pervades, suffuses and fills this very body with the rapture & pleasure born of concentration. Just like a lake with spring-water welling up from within, having no inflow from the east, west, north, or south, and with the skies supplying abundant showers time and again, so that the cool fount of water welling up from within the lake would permeate and pervade, suffuse and fill it with cool waters, there being no part of the lake unpervaded by the cool waters; even so, the monk permeates… this very body with the rapture & pleasure born of concentration. There is nothing of his entire body unpervaded by rapture & pleasure born of concentration. This, too, is a fruit of the contemplative life, visible here & now, more excellent than the previous ones and more sublime. “And then, with the fading of rapture, he remains equanimous, mindful, & alert, and senses pleasure with the body. He enters and remains in the third jhāna, of which the noble ones declare, ‘Equanimous & mindful, he has a pleasant abiding.’ He permeates and pervades, suffuses and fills this very body with the pleasure divested of rapture. Just as in a lotus pond, some of the lotuses, born and growing in the water, stay immersed in the water and flourish without standing up out of the water, so that they are permeated and pervaded, suffused and filled with cool water from their roots to their tips, and nothing of those lotuses would be unpervaded with cool water; even so, the monk permeates… this very body with the pleasure divested of rapture. There is nothing of his entire body unpervaded with pleasure divested of rapture. This, too, is a fruit of the contemplative life, visible here & now, more excellent than the previous ones and more sublime. “And then, with the abandoning of pleasure & pain—as with the earlier disappearance of elation & distress—he enters and remains in the fourth jhāna: purity of equanimity & mindfulness, neither pleasure nor pain. He sits, permeating the body with a pure, bright awareness. Just as if a man were sitting covered from head to foot with a white cloth so that there would be no part of his body to which the white cloth did not extend; even so, the monk sits, permeating the body with a pure, bright awareness. There is nothing of his entire body unpervaded by pure, bright awareness. This, too, great king, is a fruit of the contemplative life, visible here & now, more excellent than the previous ones and more sublime. | Bốn bậc thiền (Tứ thiền) Hoàn toàn xa lìa tham muốn dục lạc (ly dục), xa lìa các tính chất tâm bất thiện xảo (ly bất thiện pháp), vị ấy chứng đạt và an trú trong bậc thiền thứ nhất (sơ thiền). Một trạng thái hoan hỷ (hỷ) và an lạc (lạc) khởi sinh do sự xa lìa đó, đi kèm với tư duy hướng tâm (đến đề mục thiền) (tầm) và tư duy chú tâm (vào đề mục thiền) (tứ). Vị ấy làm tỏa khắp, lan khắp, thấm đẫm và tràn đầy khắp châu thân mình niềm hoan hỷ và an lạc khởi sinh do sự xa lìa đó. Giống như một người hầu tắm lão luyện hoặc đệ tử của người hầu tắm đổ bột tắm vào một chiếc chậu đồng, trộn lên và rắc nước vào liên tục sao cho khối bột tắm trở nên bão hòa, thấm đẫm nước ẩm cả trong lẫn ngoài, nhưng vẫn không nhỏ giọt. Cũng vậy, vị tỳ-kheo làm tỏa khắp (…) châu thân mình niềm hoan hỷ và an lạc khởi sinh do sự xa lìa đó. Toàn thân vị ấy không nơi nào là không tràn đầy niềm hoan hỷ và an lạc khởi sinh do sự xa lìa đó. Đây là một thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, vi diệu và siêu việt hơn những thành quả trước. Rồi với sự yên lắng của tư duy hướng tâm và tư duy chú tâm, vị ấy chứng đạt và an trú trong bậc thiền thứ hai (nhị thiền). Một trạng thái hoan hỷ và an lạc khởi sinh do tập trung tâm thức (định), nhất tâm, không còn tư duy hướng tâm và tư duy chú tâm – nội tâm vững chắc. Vị ấy làm tỏa khắp, lan khắp, thấm đẫm và tràn đầy khắp châu thân mình niềm hoan hỷ và an lạc khởi sinh do tập trung tâm thức. Giống như bên trong một hồ nước có suối nước phun lên, và bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc không có dòng chảy vào. Những trận mưa lớn thường xuyên trút xuống, khiến dòng nước mát phun lên từ bên trong hồ tỏa khắp, lan khắp, tràn ngập và tràn đầy lòng hồ. Cả hồ nước không chỗ nào là không tràn đầy nước mát. Cũng vậy, vị tỳ-kheo làm tỏa khắp… châu thân mình niềm hoan hỷ và an lạc khởi sinh do tập trung tâm thức. Toàn thân vị ấy không nơi nào là không tràn đầy niềm hoan hỷ và an lạc khởi sinh do tập trung tâm thức. Đây cũng là một thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, vi diệu và siêu việt hơn những thành quả trước. Niềm hoan hỷ tan biến, còn lại tâm quân bình, chánh niệm và tỉnh giác (ly hỷ trú xả), thân thể cảm thấy an lạc, vị ấy chứng đạt và an trú trong bậc thiền thứ ba (tam thiền) mà các bậc Thánh nói rằng: ‘Với tâm quân bình và chánh niệm, vị ấy trú trong an lạc’ (xả niệm lạc trú). Vị ấy làm tỏa khắp, lan khắp, thấm đẫm và tràn đầy khắp châu thân mình niềm an lạc không còn (yếu tố) hoan hỷ. Giống như trong ao sen có những bông sen sinh ra và lớn lên trong nước, luôn ngập trong nước và nở rộ mà không vươn ra khỏi mặt nước, vì thế từ gốc đến ngọn đều được tỏa khắp, lan khắp, thấm đẫm và tràn đầy nước mát, không chỗ nào là không tràn đầy nước mát. Cũng vậy, vị tỳ-kheo làm tỏa khắp… châu thân mình niềm an lạc không còn hoan hỷ. Toàn thân vị ấy không nơi nào là không tràn đầy niềm an lạc không còn hoan hỷ. Đây cũng là một thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, vi diệu và siêu việt hơn những thành quả trước. Xả bỏ an lạc và đau khổ, cùng sự tan biến trước đó của hân hoan và ưu phiền, vị ấy chứng đạt và an trú trong bậc thiền thứ tư (tứ thiền): tâm thanh tịnh chỉ còn sự quân bình và chánh niệm (xả niệm thanh tịnh), không an lạc, cũng không đau khổ. Vị ấy ngồi làm lan tỏa khắp châu thân mình tâm thanh tịnh, sáng ngời. Giống như một người ngồi trùm tấm vải trắng từ đầu đến chân sao cho toàn thân không có một chỗ nào là không được trùm vải trắng. Cũng vậy, vị tỳ-kheo làm lan tỏa khắp châu thân mình tâm thanh tịnh, sáng ngời. Toàn thân vị ấy không nơi nào là không tràn đầy tâm thanh tịnh, sáng ngời. Thưa Đại Vương, đây cũng là một thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, vi diệu và siêu việt hơn những thành quả trước. |
| Insight Knowledge “With his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability, he directs and inclines it to knowledge and vision. He discerns: ‘This body of mine is endowed with form, composed of the four primary elements, born from mother and father, nourished with rice and porridge, subject to inconstancy, rubbing, pressing, dissolution, and dispersion. And this consciousness of mine is supported here and bound up here.’ Just as if there were a beautiful beryl gem of the purest water—eight faceted, well polished, clear, limpid, consummate in all its aspects, and going through the middle of it was a blue, yellow, red, white, or brown thread—and a man with good eyesight, taking it in his hand, were to reflect on it thus: ‘This is a beautiful beryl gem of the purest water, eight faceted, well polished, clear, limpid, consummate in all its aspects. And this, going through the middle of it, is a blue, yellow, red, white, or brown thread.’ In the same way—with his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability—the monk directs and inclines it to knowledge and vision. He discerns: ‘This body of mine is endowed with form, composed of the four primary elements, born from mother and father, nourished with rice and porridge, subject to inconstancy, rubbing, pressing, dissolution, and dispersion. And this consciousness of mine is supported here and bound up here.’ This, too, great king, is a fruit of the contemplative life, visible here & now, more excellent than the previous ones and more sublime. | Thấu suốt Với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến khả năng thấy biết. Vị ấy thấy rõ: ‘Thân này của mình có hình tướng, do bốn nguyên tố chính (tứ đại) tạo thành, do cha mẹ sinh ra, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, phải chịu sự vô thường, cọ xát, đè nén, tan rã và phân hủy. Và ý thức này của mình được trụ đỡ ở đây, được ràng buộc vào đây.’ Giống như có một viên ngọc beryl đẹp đẽ được hình thành từ nước tinh khiết nhất, tám mặt, được khéo mài giũa sáng bóng, trong suốt, trong vắt, hoàn hảo mọi mặt, và một sợi dây màu xanh, vàng, đỏ, trắng hoặc nâu được xâu qua nó. Một người tinh mắt cầm viên ngọc đó trên tay sẽ suy ngẫm: ‘Đây là một viên ngọc beryl đẹp đẽ được hình thành từ nước tinh khiết nhất, tám mặt, được khéo mài giũa sáng bóng, trong suốt, trong vắt, hoàn hảo mọi mặt. Và một sợi dây màu xanh, vàng, đỏ, trắng hoặc nâu được xâu qua nó.’ Cũng vậy, với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị tỳ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến khả năng thấy biết. Vị ấy thấy rõ: ‘Thân này của mình có hình tướng, do bốn nguyên tố chính tạo thành, do cha mẹ sinh ra, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, phải chịu sự vô thường, cọ xát, đè nén, tan rã và phân hủy. Và ý thức này của mình được trụ đỡ ở đây, được ràng buộc vào đây.’ Thưa Đại Vương, đây cũng là một thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, vi diệu và siêu việt hơn những thành quả trước. |
| The Mind-made Body “With his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability, he directs and inclines it to creating a mind-made body. From this body he creates another body, endowed with form, made of the mind, complete in all its parts, not inferior in its faculties. Just as if a man were to draw a reed from its sheath. The thought would occur to him: ‘This is the sheath, this is the reed. The sheath is one thing, the reed another, but the reed has been drawn out from the sheath.’ Or as if a man were to draw a sword from its scabbard. The thought would occur to him: ‘This is the sword, this is the scabbard. The sword is one thing, the scabbard another, but the sword has been drawn out from the scabbard.’ Or as if a man were to pull a snake out from its slough. The thought would occur to him: ‘This is the snake, this is the slough. The snake is one thing, the slough another, but the snake has been pulled out from the slough.’ In the same way—with his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability, the monk directs and inclines it to creating a mind-made body. From this body he creates another body, endowed with form, made of the mind, complete in all its parts, not inferior in its faculties. This, too, great king, is a fruit of the contemplative life, visible here & now, more excellent than the previous ones and more sublime. | Thân thể do tâm tạo Với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến việc tạo ra một thân thể do tâm tạo. Từ thân thể này, vị ấy tạo ra một thân thể khác, có hình tướng, được làm bằng (chất liệu) tâm, đầy đủ mọi bộ phận, không thiếu kém giác quan nào. Giống như một người rút cây sậy ra khỏi vỏ sậy. Người ấy nghĩ: ‘Đây là vỏ sậy, đây là cây sậy. Vỏ sậy khác, cây sậy khác, nhưng cây sậy đã được rút ra khỏi vỏ sậy.’ Hoặc giống như một người rút thanh kiếm ra khỏi bao kiếm. Người ấy nghĩ: ‘Đây là thanh kiếm, đây là bao kiếm. Thanh kiếm khác, bao kiếm khác, nhưng thanh kiếm đã được rút ra khỏi bao kiếm.’ Hoặc giống như một người lột con rắn ra khỏi xác của nó. Người ấy nghĩ: ‘Đây là con rắn, đây là xác rắn. Con rắn khác, xác rắn khác, nhưng con rắn đã được lột ra khỏi xác rắn.’ Cũng vậy, với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị tỳ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến việc tạo ra một thân thể do tâm tạo. Từ thân thể này, vị ấy tạo ra một thân thể khác, có hình tướng, được làm bằng tâm, đầy đủ mọi bộ phận, không thiếu kém giác quan nào. Thưa Đại Vương, đây cũng là một thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, vi diệu và siêu việt hơn những thành quả trước. |
| Supranormal Powers “With his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability, he directs and inclines it to the modes of supranormal powers. He wields manifold supranormal powers. Having been one he becomes many; having been many he becomes one. He appears. He vanishes. He goes unimpeded through walls, ramparts, and mountains as if through space. He dives in and out of the earth as if it were water. He walks on water without sinking as if it were dry land. Sitting cross-legged he flies through the air like a winged bird. With his hand he touches and strokes even the sun and moon, so mighty and powerful. He exercises influence with his body even as far as the Brahmā worlds. Just as a dexterous potter or his assistant could craft from well-prepared clay whatever kind of pottery vessel he likes, or as a dexterous ivory-carver or his assistant could craft from well-prepared ivory any kind of ivory-work he likes, or as a dexterous goldsmith or his assistant could craft from well-prepared gold any kind of gold article he likes; in the same way—with his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability—the monk directs and inclines it to the modes of supranormal powers.… He exercises influence with his body even as far as the Brahmā worlds. This, too, great king, is a fruit of the contemplative life, visible here & now, more excellent than the previous ones and more sublime. | Thần thông Với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến các khả năng thần thông. Vị ấy làm được nhiều phép thần thông: từ một thân biến thành nhiều thân, từ nhiều thân biến thành một thân; hiện hình, biến hình; đi xuyên qua tường, qua thành, qua núi mà không bị ngăn trở như đi qua khoảng không; lặn xuống, trồi lên khỏi mặt đất như ở trong nước; đi trên nước mà không bị chìm như đi trên đất khô; ngồi kiết già bay trên không trung như chim; dùng tay chạm, rờ cả Mặt Trời, Mặt Trăng, vô cùng oai lực, quyền uy; tự thân bay xa đến tận các cõi Phạm Thiên. Giống như một người thợ gốm điêu luyện hoặc đệ tử của người ấy, từ đất sét đã được sơ chế kỹ lưỡng, có thể chế tác thành bất kỳ loại đồ gốm nào tùy theo ý thích. Giống như một người thợ ngà điêu luyện hoặc đệ tử của người ấy, từ ngà voi đã được sơ chế kỹ lưỡng, có thể chế tác thành bất kỳ loại đồ ngà voi nào tùy theo ý thích. Hay giống như một người thợ kim hoàn điêu luyện hoặc đệ tử của người ấy, từ vàng đã được sơ chế kỹ lưỡng, có thể chế tác thành bất kỳ loại đồ bằng vàng nào tùy theo ý thích. Cũng vậy, với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị tỳ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến các khả năng thần thông (…) tự thân bay xa đến tận các cõi Phạm Thiên. Thưa Đại Vương, đây cũng là một thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, vi diệu và siêu việt hơn những thành quả trước. |
| Clairaudience “With his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability, he directs and inclines it to the divine ear-element. He hears—by means of the divine ear-element, purified and surpassing the human—both kinds of sounds: divine and human, whether near or far. Just as if a man traveling along a highway were to hear the sounds of kettledrums, small drums, conchs, cymbals, and tom-toms. He would know, ‘That is the sound of kettledrums, that is the sound of small drums, that is the sound of conchs, that is the sound of cymbals, and that is the sound of tom-toms.’ In the same way—with his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability—the monk directs and inclines it to the divine ear-element. He hears—by means of the divine ear-element, purified and surpassing the human—both kinds of sounds: divine and human, whether near or far. This, too, great king, is a fruit of the contemplative life, visible here & now, more excellent than the previous ones and more sublime. | Thính giác siêu phàm Với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến khả năng thính giác siêu phàm (thiên nhĩ thông). Với thính giác siêu phàm, thanh tịnh và siêu việt hơn người thường, vị ấy nghe thấy cả hai loại âm thanh: của cõi người và cõi khác, dù gần hay xa. Giống như một người đi trên đường lớn nghe thấy tiếng trống định âm, tiếng trống nhỏ, tiếng kèn vỏ sò, tiếng chập cheng, tiếng trống cơm. Người ấy biết: ‘Đó là tiếng trống định âm, đó là tiếng trống nhỏ, đó là tiếng kèn vỏ sò, đó là tiếng chập cheng, đó là tiếng trống cơm.’ Cũng vậy, với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị tỳ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến khả năng thính giác siêu phàm. Với thính giác siêu phàm, thanh tịnh và siêu việt hơn người thường, vị ấy nghe thấy cả hai loại âm thanh: của cõi người và cõi khác, dù gần hay xa. Thưa Đại Vương, đây cũng là một thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, vi diệu và siêu việt hơn những thành quả trước. |
| Mind Reading “With his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability, he directs and inclines it to knowledge of the awareness of other beings. He discerns the awareness of other beings, other individuals, having encompassed it with his own awareness. He discerns a mind with passion as ‘a mind with passion,’ and a mind without passion as ‘a mind without passion.’ He discerns a mind with aversion as ‘a mind with aversion,’ and a mind without aversion as ‘a mind without aversion.’ He discerns a mind with delusion as ‘a mind with delusion,’ and a mind without delusion as ‘a mind without delusion.’ He discerns a restricted mind as ‘a restricted mind,’ and a scattered mind as ‘a scattered mind.’ He discerns an enlarged mind as ‘an enlarged mind,’ and an unenlarged mind as ‘an unenlarged mind.’ He discerns a surpassed mind [one that is not at the most excellent level] as ‘a surpassed mind,’ and an unsurpassed mind as ‘an unsurpassed mind.’ He discerns a concentrated mind as ‘a concentrated mind,’ and an unconcentrated mind as ‘an unconcentrated mind.’ He discerns a released mind as ‘a released mind,’ and an unreleased mind as ‘an unreleased mind.’ Just as if a young woman—or man—fond of ornaments, examining the reflection of her own face in a bright mirror or a bowl of clear water would know ‘blemished’ if it were blemished, or ‘unblemished’ if it were not. In the same way—with his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability—the monk directs and inclines it to knowledge of the awareness of other beings. He discerns the awareness of other beings, other individuals, having encompassed it with his own awareness. He discerns a mind with passion as ‘a mind with passion,’ and a mind without passion as ‘a mind without passion’ … a released mind as ‘a released mind,’ and an unreleased mind as ‘an unreleased mind.’ This, too, great king, is a fruit of the contemplative life, visible here & now, more excellent than the previous ones and more sublime. | Đọc tâm Với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến khả năng biết tâm của các chúng sinh khác (tha tâm thông). Dùng tâm của mình bao trùm tâm của chúng sinh khác, của người khác, vị ấy thấy rõ tâm của họ. Vị ấy thấy rõ tâm có tham muốn là ‘tâm có tham muốn’ (tâm có tham), tâm không có tham muốn là ‘tâm không có tham muốn’. Vị ấy thấy rõ tâm sân hận là ‘tâm có sân hận’ (tâm có sân), tâm không có sân hận là ‘tâm không có sân hận’. Vị ấy thấy rõ tâm có mê lầm là ‘tâm có mê lầm’ (tâm có si), và tâm không có mê lầm là ‘tâm không có mê lầm’. Vị ấy thấy rõ tâm chuyên chú là ‘tâm chuyên chú’, và tâm phân tán là ‘tâm phân tán’. Vị ấy thấy rõ tâm rộng lớn là ‘tâm rộng lớn’, và tâm chưa rộng lớn là ‘tâm chưa rộng lớn’. Vị ấy thấy rõ tâm siêu phàm [chưa đạt mức độ vô thượng] là ‘tâm siêu phàm’, và tâm chưa siêu phàm là ‘tâm chưa siêu phàm’. Vị ấy thấy rõ tâm tập trung là ‘tâm tập trung’, và tâm chưa tập trung là ‘tâm chưa tập trung’. Vị ấy thấy rõ tâm giải thoát là ‘tâm giải thoát’, và tâm chưa giải thoát là ‘tâm chưa giải thoát’. Giống như một cô gái hoặc chàng trai trẻ thích tô điểm, khi ngắm nghía khuôn mặt mình trong một tấm gương sáng hoặc bát nước trong, nếu có tì vết sẽ biết là ‘có tì vết’, nếu không có tì vết sẽ biết là ‘không có tì vết’. Cũng vậy, với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến khả năng biết tâm của các chúng sinh khác. Dùng tâm của mình bao trùm tâm của các chúng sinh khác, của người khác, vị ấy thấy rõ tâm của họ. Vị ấy thấy rõ tâm có tham muốn là ‘tâm có tham muốn’, tâm không có tham muốn là ‘tâm không có tham muốn’ (…) tâm giải thoát là ‘tâm giải thoát’, và tâm ‘chưa giải thoát’ là ‘tâm chưa giải thoát’. Thưa Đại Vương, đây cũng là một thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, vi diệu và siêu việt hơn những thành quả trước. |
| Recollection of Past Lives “With his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability, he directs and inclines it to knowledge of the recollection of past lives [lit: previous homes]. He recollects his manifold past lives, i.e., one birth, two births, three births, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, one hundred, one thousand, one hundred thousand, many eons of cosmic contraction, many eons of cosmic expansion, many eons of cosmic contraction & expansion, (recollecting,) ‘There I had such a name, belonged to such a clan, had such an appearance. Such was my food, such my experience of pleasure & pain, such the end of my life. Passing away from that state, I re-arose there. There too I had such a name, belonged to such a clan, had such an appearance. Such was my food, such my experience of pleasure & pain, such the end of my life. Passing away from that state, I re-arose here.’ Thus he recollects his manifold past lives in their modes & details. Just as if a man were to go from his home village to another village, and then from that village to yet another village, and then from that village back to his home village. The thought would occur to him, ‘I went from my home village to that village over there. There I stood in such a way, sat in such a way, talked in such a way, and remained silent in such a way. From that village I went to that village over there, and there I stood in such a way, sat in such a way, talked in such a way, and remained silent in such a way. From that village I came back home.’ In the same way—with his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability—the monk directs and inclines it to knowledge of the recollection of past lives. He recollects his manifold past lives… in their modes & details. This, too, great king, is a fruit of the contemplative life, visible here & now, more excellent than the previous ones and more sublime. | Nhớ lại kiếp trước Với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến khả năng nhớ lại kiếp trước (túc mạng minh). Vị ấy nhớ lại được nhiều kiếp trước của mình: một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn kiếp, nhiều đại kiếp vũ trụ thu hẹp, nhiều đại kiếp vũ trụ mở rộng, nhiều đại kiếp vũ trụ thu hẹp và mở rộng. Vị ấy nhớ lại được: ‘Ở đó, mình có tên là như vậy, thuộc về gia tộc như vậy, có hình tướng như vậy, ăn thức ăn như vậy, trải nghiệm vui buồn như vậy, kết thúc cuộc đời như vậy. Sau khi qua đời khỏi trạng thái đó, mình đã tái sinh ở kia. Ở kia, mình cũng có tên là như thế kia, thuộc về gia tộc như thế kia, có hình tướng như thế kia, ăn thức ăn như thế kia, trải nghiệm vui buồn như thế kia, kết thúc cuộc đời như thế kia. Sau khi qua đời khỏi trạng thái kia, mình đã tái sinh ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều kiếp trước của mình cả về đại cương lẫn chi tiết. Giống như một người đi từ làng mình đến làng kia, từ làng kia đến làng đó, rồi từ làng đó trở về làng mình. Người ấy nghĩ: ‘Mình đã đi từ làng mình đến làng kia. Ở đó, mình đứng như vậy, ngồi như vậy, nói chuyện như vậy và im lặng như vậy. Từ làng kia, mình đã đi đến làng đó. Ở đó, mình đứng như vậy, ngồi như vậy, nói chuyện như vậy và im lặng như vậy. Từ làng đó, mình trở về nhà.’ Cũng vậy, với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị tỳ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến khả năng nhớ lại kiếp trước. Vị ấy nhớ lại được nhiều kiếp trước của mình (…) cả về đại cương lẫn chi tiết. Thưa Đại Vương, đây cũng là một thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, vi diệu và siêu việt hơn những thành quả trước. |
| The Passing Away & Re-appearance of Beings “With his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability, he directs and inclines it to knowledge of the passing away and re-appearance of beings. He sees—by means of the divine eye, purified and surpassing the human—beings passing away and re-appearing, and he discerns how they are inferior and superior, beautiful and ugly, fortunate and unfortunate in accordance with their kamma: ‘These beings—who were endowed with bad conduct of body, speech, and mind, who reviled the noble ones, held wrong views and undertook actions under the influence of wrong views—with the break-up of the body, after death, have re-appeared in a plane of deprivation, a bad destination, a lower realm, hell. But these beings—who were endowed with good conduct of body, speech, and mind, who did not revile the noble ones, who held right views and undertook actions under the influence of right views—with the break-up of the body, after death, have re-appeared in a good destination, a heavenly world.’ Thus—by means of the divine eye, purified and surpassing the human—he sees beings passing away and re-appearing, and he discerns how they are inferior and superior, beautiful and ugly, fortunate and unfortunate in accordance with their kamma. Just as if there were a tall building in the central square (of a town), and a man with good eyesight standing on top of it were to see people entering a house, leaving it, walking along the street, and sitting in the central square. The thought would occur to him, ‘These people are entering a house, leaving it, walking along the streets, and sitting in the central square.’ In the same way—with his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability—the monk directs and inclines it to knowledge of the passing away and re-appearance of beings. He sees—by means of the divine eye, purified and surpassing the human—beings passing away and re-appearing, and he discerns how they are inferior and superior, beautiful and ugly, fortunate and unfortunate in accordance with their kamma.… This, too, great king, is a fruit of the contemplative life, visible here & now, more excellent than the previous ones and more sublime. | Sự sinh tử của chúng sinh Với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến khả năng thấy biết sự sinh tử của chúng sinh. Bằng thị giác siêu phàm (thiên nhãn), thanh tịnh và siêu việt hơn người thường, vị ấy thấy được sự qua đời và tái sinh của các chúng sinh. Và vị ấy thấy rõ chúng sinh cao quý và thấp hèn, đẹp đẽ và xấu xí, may mắn và bất hạnh tùy theo nghiệp (hành động) của họ như thế nào: ‘Những chúng sinh này – cư xử xấu trong lời nói, hành động và suy nghĩ, phỉ báng các bậc Thánh, nhìn nhận sai lầm và hành động dưới ảnh hưởng của cái nhìn sai lầm, khi thân hoại mạng chung, đã tái sinh ở cõi đọa, cõi xấu, cõi thấp, cõi địa ngục. Nhưng những chúng sinh này – cư xử tốt trong lời nói, hành động và suy nghĩ, không phỉ báng các bậc Thánh, nhìn nhận đúng đắn và hành động dưới ảnh hưởng của cái nhìn đúng đắn, khi thân hoại mạng chung, đã tái sinh ở cõi thiện, cõi Trời.’ Như vậy, bằng thị giác siêu phàm, thanh tịnh và siêu việt hơn người thường, vị ấy thấy được sự qua đời và tái sinh của chúng sinh; và vị ấy thấy rõ chúng sinh cao quý và thấp hèn, đẹp đẽ và xấu xí, may mắn và bất hạnh tùy theo nghiệp của họ như thế nào. Giống như có một tòa nhà cao tầng ở quảng trường trung tâm (của thị trấn), và một người có thị lực tốt đứng trên tầng thượng của tòa nhà đó sẽ nhìn thấy mọi người đi vào tòa nhà, đi ra khỏi tòa nhà, đi dọc đường phố và ngồi ở quảng trường trung tâm. Người ấy nghĩ: ‘Những người này đang đi vào tòa nhà, đi ra khỏi tòa nhà, đi dọc đường phố và ngồi ở quảng trường trung tâm.’ Cũng vậy, với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị tỳ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến khả năng thấy biết sự sinh tử của chúng sinh. Bằng thị giác siêu phàm, thanh tịnh và siêu việt hơn người thường, vị ấy thấy được sự qua đời và tái sinh của chúng sinh. Và vị ấy thấy rõ chúng sinh cao quý và thấp hèn, đẹp đẽ và xấu xí, may mắn và bất hạnh tùy theo nghiệp của họ như thế nào. (…) Thưa Đại Vương, đây cũng là một thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, vi diệu và siêu việt hơn những thành quả trước. |
| The Ending of Effluent “With his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability, the monk directs and inclines it to the knowledge of the ending of effluents. He discerns, as it has come to be, that ‘This is stress… This is the origination of stress… This is the cessation of stress… This is the way leading to the cessation of stress… These are effluents… This is the origination of effluents… This is the cessation of effluents… This is the way leading to the cessation of effluents.’ His heart, thus knowing, thus seeing, is released from the effluent of sensuality, the effluent of becoming, the effluent of ignorance. With release, there is the knowledge, ‘Released.’ He discerns that ‘Birth is ended, the holy life fulfilled, the task done. There is nothing further for this world.’ Just as if there were a pool of water in a mountain glen—clear, limpid, & unsullied—where a man with good eyesight standing on the bank could see shells, gravel, and pebbles, and also shoals of fish swimming about and resting, and it would occur to him, ‘This pool of water is clear, limpid, and unsullied. Here are these shells, gravel, and pebbles, and also these shoals of fish swimming about and resting.’ In the same way—with his mind thus concentrated, purified, and bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, and attained to imperturbability—the monk directs and inclines it to the knowledge of the ending of effluents. He discerns, as it has come to be, that ‘This is stress… This is the origination of stress… This is the cessation of stress… This is the way leading to the cessation of stress… These are effluents… This is the origination of effluents… This is the cessation of effluents… This is the way leading to the cessation of effluents.’ His heart, thus knowing, thus seeing, is released from the effluent of sensuality, the effluent of becoming, the effluent of ignorance. With release, there is the knowledge, ‘Released.’ He discerns that ‘Birth is ended, the holy life fulfilled, the task done. There is nothing further for this world.’ This, too, great king, is a fruit of the contemplative life, visible here & now, more excellent than the previous ones and more sublime. And as for another visible fruit of the contemplative life, higher and more sublime than this, there is none.” | Diệt trừ ô nhiễm Với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị tỳ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến hiểu biết về sự diệt trừ ô nhiễm (trong tâm). Vị ấy thấy rõ, đúng như thực tế rằng: ‘Đây là sự đau khổ… Đây là nguồn gốc của sự đau khổ… Đây là sự chấm dứt đau khổ… Đây là con đường chấm dứt đau khổ… Đây là những sự ô nhiễm… Đây là nguồn gốc của sự ô nhiễm… Đây là sự diệt trừ ô nhiễm… Đây là con đường diệt trừ ô nhiễm’. Biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi sự ô nhiễm của tham dục (dục lậu), sự ô nhiễm của tham hiện hữu (hữu lậu), sự ô nhiễm của thiếu hiểu biết (vô minh lậu). Đi cùng với sự giải thoát là hiểu biết: ‘Đã giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Không còn sinh ra nữa, đời sống thanh tịnh đã thành tựu, việc nên làm đã làm. Không còn gì thêm cho thế giới này.’ Giống như trong một thung lũng trên núi có một hồ nước trong vắt, trong veo và không bị ô nhiễm. Một người có thị lực tốt đứng trên bờ có thể nhìn thấy vỏ sò, sỏi, đá cuội, cùng những đàn cá bơi lội, nghỉ ngơi. Người ấy nghĩ: ‘Hồ nước này trong vắt, trong veo và không bị ô nhiễm. Trong này có vỏ sò, sỏi, đá cuội, cùng những đàn cá bơi lội, nghỉ ngơi.’ Cũng vậy, với tâm tập trung, thanh tịnh, sáng ngời, không tì vết, không khiếm khuyết, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, vững chắc và đã đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị tỳ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến hiểu biết về sự diệt trừ ô nhiễm (trong tâm). Vị ấy thấy rõ, đúng như thực tế rằng: ‘Đây là sự đau khổ… Đây là nguồn gốc của sự đau khổ… Đây là sự chấm dứt đau khổ… Đây là con đường chấm dứt đau khổ… Đây là những sự ô nhiễm… Đây là nguồn gốc của sự ô nhiễm… Đây là sự diệt trừ ô nhiễm… Đây là con đường diệt trừ ô nhiễm’. Biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi sự ô nhiễm của tham dục (dục lậu), sự ô nhiễm của tham hiện hữu (hữu lậu), sự ô nhiễm của thiếu hiểu biết (vô minh lậu). Đi cùng với sự giải thoát là hiểu biết: ‘Đã giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Không còn sinh ra nữa, đời sống thanh tịnh đã thành tựu, việc nên làm đã làm. Không còn gì thêm cho thế giới này.’ Thưa Đại Vương, đây cũng là một thành quả của đời sống tu hành, hữu hình ngay trong hiện tại, vi diệu và siêu việt hơn những thành quả trước. Và không có thành quả nào khác của đời sống tu hành mà cao hơn, siêu việt hơn thế.” |
| When this was said, King Ajātasattu said to the Blessed One: “Magnificent, lord! Magnificent! Just as if he were to place upright what was overturned, to reveal what was hidden, to show the way to one who was lost, or to carry a lamp into the dark so that those with eyes could see forms, in the same way has the Blessed One—through many lines of reasoning—made the Dhamma clear. I go to the Blessed One for refuge, to the Dhamma, and to the Saṅgha of monks. May the Blessed One remember me as a lay follower who has gone to him for refuge, from this day forward, for life. “A transgression has overcome me, lord, in that I was so foolish, so muddle-headed, and so unskilled as to kill my father—a righteous man, a righteous king—for the sake of sovereign rulership. May the Blessed One please accept this confession of my transgression as such, so that I may restrain myself in the future.” “Yes, great king, a transgression overcame you in that you were so foolish, so muddle-headed, and so unskilled as to kill your father—a righteous man, a righteous king—for the sake of sovereign rulership. But because you see your transgression as such and make amends in accordance with the Dhamma, we accept your confession. For it is a cause of growth in the discipline of the noble ones when, seeing a transgression as such, one makes amends in accordance with the Dhamma and exercises restraint in the future.” When this was said, King Ajātasattu said to the Blessed One: “Well, then, lord, I am now taking leave. Many are my duties, many my responsibilities.” “Then do, great king, what you think it is now time to do.” So King Ajātasattu, delighting and rejoicing in the Blessed One’s words, rose from his seat, bowed down to him, and—after circumambulating him—left. Not long after King Ajātasattu had left, the Blessed One addressed the monks: “The king is wounded, monks. The king is incapacitated. Had he not killed his father—that righteous man, that righteous king—the dustless, stainless Dhamma eye would have arisen to him as he sat in this very seat.” That is what the Blessed One said. Gratified, the monks delighted in the Blessed One’s words. | Nghe xong, Vua A-xà-thế thưa với Thế Tôn: “Thưa Thế Tôn, thật vi diệu! Thật vi diệu! Như người dựng lại vật lật đổ, tiết lộ điều ẩn giấu, chỉ đường cho người lạc, đem đèn vào bóng tối cho người có mắt thấy cảnh sắc, Thế Tôn đã làm rõ Chánh Pháp qua nhiều phương tiện giảng giải. Con xin quy y (quay về nương tựa) Phật, quy y Pháp và quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm Phật tử tại gia từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. Thưa Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội, con đã quá ngu si, quá bấn loạn và quá bất thiện xảo đến mức hại mạng phụ vương của con – một người ngay thẳng, một vị vua công chính, để đoạt vương quyền. Xin Thế Tôn nhận lời thú tội này của con, để sau này con có thể kiềm chế bản thân.” “Đúng vậy, Đại Vương, Ngài đã phạm một trọng tội, Ngài đã quá ngu si, quá bấn loạn và quá bất thiện xảo đến mức hại mạng phụ vương của Ngài – một người ngay thẳng, một vị vua công chính, để đoạt vương quyền. Nhưng vì Ngài đã thấy được tội lỗi của mình như vậy và sửa chữa theo Chánh Pháp, nên chúng ta nhận lời thú tội của Ngài. Vì khi thấy tội lỗi như vậy thì sửa chữa theo Chánh Pháp và kiềm chế bản thân về sau chính là một nhân tố giúp tăng trưởng kỷ luật của các bậc Thánh.” Nghe vậy, Vua A-xà-thế thưa với Thế Tôn: “Vâng, thưa Thế Tôn, bây giờ con xin cáo từ. Nhiều bổn phận, nhiều trách nhiệm đang đợi con.” “Vâng, Đại Vương, Ngài về xử lý công việc.” Hoan hỷ và vui mừng với lời dạy của Thế Tôn, Vua A-xà-thế đứng dậy từ chỗ ngồi, đảnh lễ Thế Tôn, đi một vòng quanh Ngài rồi ra về. Sau khi Vua A-xà-thế ra về một lúc, Thế Tôn nói với các tỳ-kheo: “Này các tỳ-kheo, Vua đang bị tổn thương. Vua đang bị mất năng lực. Nếu Vua không hại mạng vua cha – người ngay thẳng đó, vị vua công chính đó, thì ngay tại chỗ ngồi này, con mắt Chánh Pháp không vẩn đục, không vương bụi trần đã mở ra với Ngài.” Thế Tôn nói như vậy. Mãn nguyện, các tỳ-kheo hoan hỷ với lời Ngài. |
| Dịch từ Kinh Pali bởi Tỳ-kheo Thanissaro ©1997 | Dịch từ Kinh tiếng Anh bởi Nguyễn Thị Quỳnh Nga ©2024 |
Tham khảo: Bản dịch tiếng Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu.



Bình luận về bài viết này